Trang chủ » Thế giới truyện » Trinh thám hình sự

Biểu tượng thất truyền – Chương 79 – 81 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương 79

Cách Alexandria, bang Virginia tám dặm về phía bắc. Robert Langdon và Katherine Solomon đang bình tĩnh rảo bước qua bãi cỏ rộng còn đẫm hơi sương.
– Chị nên làm diễn viên thì hơn – Langdon nói, vẫn còn rất ấn tượng trước suy nghĩ nhanh nhẹn và khả năng ứng phó của Katherine.
– Anh cũng không tệ đâu – Cô mỉm cười đáp.
Thoạt đầu Langdon hết sức lúng túng với vở kịch bất ngờ của Katherine ở trong taxi. Chẳng hề báo trước, cô đột ngột đòi tới Quảng trường Tự Do vì bỗng nhớ ra một ngôi sao Do Thái và dấu Quốc ấn của nước Mỹ. Cô vẽ một đồ hình nổi tiếng lên tờ đô la và giục Langdon nhìn kỹ chỗ cô muốn chỉ.
Cuối cùng, Langdon cũng nhận ra thứ Katherine đang nói tớikhông phải là tờ đô la mà là bóng đèn tín hiệu nhỏ xíu ở lưng ghế lái xe. Bóng đèn bị phủ bụi nên anh vốn không chú ý đến nó. Tuy nhiên, khi nghiêng người tới trước, Langdon thấy rõ bóng đèn đó sáng, toả ra màu đỏ đục. Anh cũng thấy rõ mấy chữ lờ mờ phía dưới bóng đèn.
 
HỆ THÔNG ĐÀM THOẠI TRONG XE – ĐANG BẬT
 
Giật mình, Langdon ngoảnh nhìn Katherine. Ánh mắt hốt hoảng của cô giục anh trông lên ghế trước. Langdon làm theo, kín đáo liếc nhanh qua tấm vách ngăn. Điện thoại di động của gã lái xe đặt trên bảng điều khiển, mở sẵn, sáng đèn và hướng về loa đàm thoại nội bộ.
Trong khoảnh khắc, Langdon hiểu ngay hành động của Katherine.
Họ biết chúng ta ở trên taxi… họ đang nghe ta nói.
Langdon không biết anh và Katherine còn bao nhiều thời gian cho tới lúc chiếc taxi dừng lại, nhưng anh biết mình phải hành động thật nhanh. Ngay lập tức anh tham gia màn kịch vì đã nhận ra đề xuất tới Quảng trường Tự Do của Katherine chẳng liên quan gì đến kim tự tháp, mà liên quan đến một ga tàu điện ngầm lớn – Ga Trung tâm, từ đó họ có thể bắt các tuyến Đỏ, Xanh lam hoặc Da cam theo bất kỳ hướng nào trong sáu hướng đi.
 
Tới Quảng trường Tự Do, họ nhảy ra khỏi taxi và Langdon vào vai, diễn một vài khúc ứng tác của riêng anh, cố tình để lại dấu hiệu chỉ đường tới Đài tưởng niệm ở Alexandria rồi mới cùng Katherine chạy xuống ga tàu điện ngầm, bỏ qua tuyến Xanh lam và tiếp tục tới tuyến Đỏ, đón tàu chạy theo hướng ngược lại.
 
Đi về phía bắc, vượt qua sáu nhà ga, họ tới một khu vực sang trọng yên tĩnh gần Tenleytown. Điểm đến của họ là công trình cao nhất ở khu vực này, hiện ra lừng lững phía chân trời, ngay Đại lộ Massachusetts, trên một bãi cỏ được cắt tỉa công phu.
 
Giờ đã “tháo cũi sô lồng”, theo như lời Katherine, hai người thong thả đi qua bãi cỏ ẩm ướt. Bên tay phải họ là một khu vườn theo phong cách trung cổ, nổi tiếng với những bụi hồng lâu đời và vọng lâu Ngôi nhà Bóng mát. Họ băng qua vườn, tiến thẳng tới toà nhà lộng lẫy theo chỉ dẫn. Một nơi trú ẩn chứa mười tảng đá lấy từ núi Sinai, một hòn từ thiên đường, và một hòn mang nét mặt người cha bí ẩn của Luke.
– Tôi chưa bao giờ đến đây ban đêm cả, – Katherine nói, ngước mắt nhìn những ngọn tháp sáng rực – Thật đẹp.
 
Langdon hoàn toàn đồng ý, giờ mới nhớ ra rằng nơi đây thật sự cực kỳ ấn tượng. Kiệt tác tân Gothic này toạ lạc ở đầu phía bắc của khu Embassy Row, vài năm trước anh từng đến một lần để viết bài về nó cho một tạp chí trẻ em với hy vọng thanh thiếu niên có hứng thú ghé thăm công trình kỳ vĩ này. Bài viết của anh mang nhan đề “Moses, đá Mặt trăng và Chiến tranh giữa các vì sao”, về sau đã trở thành một phần trong các tài liệu du lịch.
 
Đại Giáo đường Quốc gia Washington, Langdon nghĩ bụng, cảm thấy hơi hồi hộp sau nhiều năm trở lại. Còn nơi nào tốt hơn để tìm hiểu về Đức Chúa đích thực chưa?
– Nhà thờ này thực sự có mười tảng đá lấy từ núi Sinai à? – Katherine hỏi, nguýt nhìn tháp chuông đôi.
Langdon gật đầu.
– Gần chỗ bàn thờ chính. Chúng tượng trưng cho mười điều răn gửi tới Moses trên núi Sinai.
– Thế còn tảng đá mặt trăng?
Một tảng đá từ thiên đường.
– Phải. Một trong những ô cửa sổ lắp kính màu được gọi là Cửa sổ Vũ trụ, mẩu đá mặt trăng gắn ở đó.
– Hay thật, nhưng chi tiết cuối cùng nghe chừng hoang đường – Katherine nhìn quanh, đôi mắt đẹp thoáng nét hoài nghi – Một bức tượng của… Darth Vader(89) chăng?
Langdon bật cười.
– Người cha bí ẩn của Luke Skywalker(90) à? Chính xác đấy. Vader là một trong những pho tượng nổi tiếng nhất của Giáo đường Quốc gia – Anh chỉ tít lên mấy ngọn tháp phía tây – Hơi khó nhìn vào ban đêm, nhưng ở kia kìa.
– Darth Vader thì làm gì ở Đại Giáo đường Quốc gia Washington này chứ?
– Một bài thi cho bọn trẻ tạc miệng máng xối hình mặt quỷ. Darth đã giành chiến thắng.
Họ tới bậc cấp rộng dẫn lên lối cửa chính nằm sâu trong khuôn cửa vòm cao 24 mét, bên trên là một ô cửa sổ hoa hồng đẹp mê hồn.
Langdon đặt chân lên bậc cấp, tâm trí vẩn vơ nghĩ tới người lạ mặt đã gọi cho anh. Xin đừng nói tên… Cho tôi biết có phải anh đã bảo vệ được tấm bản đồ người ta uỷ thác cho anh không?Vai Langdon đau rát vì đeo ngọn kim tự tháp đá nặng trĩu, anh chỉ mong được hạ nó xuống. Chỗ ẩn náu và câu trả lời.
Khi lên tới bậc trên cùng, họ gặp hai cánh cửa gỗ đồ sộ.
– Chúng ta chỉ việc gõ cửa thôi à? – Katherine hỏi.
Langdon cũng đang băn khoăn thì có tiếng cửa kẹt mở.
– Ai đó? – một giọng nói yếu ớt vang lên. Một gương mặt nhăn nheo xuất hiện ở cửa. Ông ta mặc áo choàng thầy tu, ánh nhìn hoàn toàn trống rỗng, đôi mắt trắng đục và mờ tịt vì bệnh đục thuỷ tinh thể.
– Tên tôi là Robert Langdon, – anh đáp – Cô Katherine Solomon và tôi đang tìm một chỗ ẩn náu.
Ông già mù loà thở phào.
– Ơn Chúa. Tôi đang mong gặp hai vị.
 
Chú thích:
(89) Darth Vader là một nhân vật trong bộ phim truyện Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars). Darth Vader là tên của Anakin Skywalker sau khi gia nhập mặt tối của thần lực. Sau trận kịch chiến với thầy mình là Obi-Wan Kenobi ở hệ nham thạch, anh ta thất bại và bị dung nham ở hệ hành tinh ấy thiêu đốt làm biến dạng cơ thể. Chúa tể Darth Sidious đem anh ta về chữa trị và cho anh ta chiếc mặt nạ đen. Từ đó anh ta trở thành Darth Vader cùng với đội quân nhân bản thống lĩnh thiên hà. Trong tập bốn của bộ phim, Darth Vader giết Obi-Wan Kenobi khi ông đang cố gắng bảo vệ Luke Skywalker, con “trai của Anakin Skywalker, và các bạn của anh. Khi thấy chính con trai mình sắp bị giết, Darth Vader đã liều mình hy sinh để cứu con – ND.
(90) Luke Skywalker là con trai của Anakin Skywalker (Darth Vader). Mẹ của Luke, Padmé Amidala, qua đời khi sinh anh và người em gái của anh, công chúa Leia Amidala Skywalker vì quá đau buồn trước những sai lầm của cha anh. Khi vừa sinh ra, anh được hiệp sĩ Jedi Obi-Wan Kenobi đưa về quê nội ở hành tinh Tatooine để trốn tránh sự truy sát của người Sith do Darth Sidious chỉ huy. Tại đây, anh đã lớn lên với thân phận một nông dân nghèo khổ, làm nghề thu mua những người máy cũ. Tình cờ, anh có được hai người máy R2D2 và C3PO của công chúa Leia. Những thông tin cầu cứu của công chúa Leia đã dẫn anh tìm đến Ben Kenobi, tên của Obi-Wan Kenobi khi mai danh ẩn tích. Chính Obi-Wan Kenobi đã dạy anh những bài học đầu tiên để trở thành một hiệp sĩ Jedi cũng như bước vào cuộc chiến cùng quân khởi nghĩa chống lại Đế chế độc tài do Darth Sidious và cha anh, Darth Vader, cầm đầu. Trong phần cuối của bộ phim, Luke đánh bại được Vader nhưng sau đó thua Palpatine. Khi Palpatine định giết Luke, cha anh tỉnh ngộ và chấp nhận cái chết để tiêu diệt Palpatine cũng là để cứu con trai mình – ND.
Chương 80 
Warren Bellamy bỗng cảm thấy một tia hy vọng.
Giám đốc Sato vừa nhận cuộc gọi của một đặc vụ và lập tức mắng xa xả.
– Thôi được rồi, đám ăn hại các anh nên tìm ngay họ đi! – bà ta quát vào điện thoại – Chúng ta không còn bao nhiêu thời gian đâu!
Sato tắt máy và đi đi lại lại trước mặt Bellamy như thể đang cố gắng quyết định xem phải làm gì tiếp theo.
Cuối cùng, bà ta dừng bước ngang chỗ ông và quay sang.
– Ông Bellamy, tôi hỏi ông câu này một lần nữa, và chỉ một lần nữa thôi – Bà ta nhìn xoáy vào mắt viên Kiến trúc sư – ông có biết Robert Langdon đi đâu không? Có hay không?
Bellamy biết rất rõ, nhưng ông lắc đầu.
– Không.
Ánh nhìn sắc lạnh của Sato không rời khỏi mắt người đàn ông.
– Tiếc rằng một phần công việc của tôi là phát hiện khi nào thì người ta nói dối.
Bellamy ngoảnh đi.
– Xin lỗi, tôi không giúp gì được bà.
– Kiến trúc sư Bellamy. – Sato nói – Hồi tối, vừa sau giờ, ông đang ăn cơm ở một nhà hàng ngoại ô thì nhận được điện thoại của một người, thông báo hắn đã bắt cóc Peter Solomon.
Bellamy rùng mình ớn lạnh và ngoảnh lại nhìn Sato. Làm thế nào mà bà biết chuyện đó?
– Gã kia, – Sato nói tiếp – bảo ông rằng gã đã cử Robert Langdon tới Điện Capitol để thực hiện một nhiệm vụ… một nhiệm vụ cần sự giúp đỡ của ông. Gã cảnh cáo rằng nếu Langdon không hoàn thành nhiệm vụ này thì Peter Solomon bạn ông sẽ chết. Hoảng sợ, ông gọi tất cả các số của Peter nhưng không được. Đương nhiên sau đó ông chạy vội tới Điện Capitol.
Bellamy không tưởng tượng nổi bằng cách nào Sato biết về cuộc điện thoại này.
– Khi chạy trốn khỏi Điện Capitol, – Sato rít một hơi thuốc rồi tiếp – ông gửi một tin nhắn cho kẻ bắt cóc Solomon, quả quyết với hắn rằng ông và Langdon đã thành cộng trong việc giành được Kim tự tháp Tam điểm.
Bà ta lấy thông tin ở đâu nhỉ? Bellamy tự hỏi. Ngay cả Langdon cũng không biết mình gửi tin nhắn. Ngay sau khi bước vào đường hầm dẫn sang Thư viện Quốc hội, Bellamy đến phòng điều khiển hệ thống điện để bật đèn. Trong khoảng thời gian riêng tư đó, ông đã quyết định gửi một tin nhắn nhanh cho kẻ bắt cóc Solomon, báo với gã về sự can thiệp của Sato, nhưng cũng trấn an rằng ông – Bellamy – và Langdon đã đoạt được Kim tự tháp Tam điểm và trên thực tế đang hợp tác với gã. Dĩ nhiên đây chỉ là lời nói dối, song Bellamy hy vọng kế hoãn binh ấy sẽ kéo dài thời gian, cho Peter Solomon và cả cho việc giấu kim tự tháp.
– Ai nói với bà tôi đã gửi tin nhắn? – Bellamy cật vấn.
Sato cầm chiếc điện thoại di động của Bellamy trên ghế băng cạnh ông.
– Chẳng khó khăn mấy.
Bellamy sực nhớ rằng khi bị bắt. Ông đã bị bọn đặc vụ tịch thu cả điện thoại lẫn chìa khoá.
– Về những thông tin còn lại – Sato nói – Luật Yêu nước cho tôi quyền được nghe trộm điện thoại của bất kỳ ai tôi coi là mối đe doạ tiềm tàng đối với an ninh quốc gia. Trong mắt tôi, Peter Solomon là một mối đe doạ như thế, và tối hôm qua, tôi đã hành động.
Bellamy cố gắng lắm mới hiểu được những điều Sato nói.
– Bà nghe trộm điện thoại của Peter Solomon?
– Phải. Nhờ thế mà tôi biết gã bắt cóc đã liên lạc với ông ở nhà hàng. Ông gọi vào điện thoại di động của Peter và để lại một tin nhắn giải thích những chuyện vừa xảy ra.
Bellamy thừa nhận bà ta nói đúng.
– Chúng tôi cũng nghe lén được một cuộc gọi của Robert Langdon, lúc ấy đang có mặt ở Điện Capitol và hoàn toàn không hiểu tại sao mình lại bị lừa tới đó. Tôi tới Điện Capitol ngay, tới trước ông vì tôi ở gần hơn. Còn vì sao tôi muốn xem X quang cái túi của Langdon… ngay khi nhận ra Langdon dính vào chuyện này, tôi đã cho nhân viên kiểm tra lại cuộc gọi tưởng như vô hại vào sáng sớm giữa Langdon và điện thoại di động của Peter Solomon, trong đó kẻ bắt cóc tự nhận là trợ lý của Solomon, thuyết phục Langdon đến giảng bài và dặn mang theo cả cái gói nhỏ Peter đã gửi anh ta. Thấy Langdon không đả động gì tới cái gói, tôi đã yêu cầu xem bản chụp X quang chiếc túi.
Bellamy thấy khó nghĩ. Phải thừa nhận rằng câu chuyện của Sato rất xuôi tai, nhưng vẫn còn thiếu điều gì đó.
– Vì sao bà lại nghĩ Peter Solomon là mối đe doạ đối với an ninh quốc gia chứ?
– Tin tôi đi, Peter Solomon đúng là mối đe doạ rất nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia, – Sato ngắt lời – Và nói thẳng nhé, ôngcũng vậy đấy, thưa ông Bellamy.
Viên Kiến trúc sư bật ngồi thẳng dậy, chiếc còng xiết chặt lấy cổ tay ông.
– Bà nói sao cơ?
Vị Giám đốc OS cố nặn ra một nụ cười.
– Đám Hội viên Tam điểm các người chơi một trò chơi đầy rủi ro. Các người giấu giếm một bí mật rất, rất nguy hiểm.
Bà ta đang nói về những Bí mật cổ xưa chăng?
– Rất may, các người đã luôn làm tốt công việc giữ kín mọi bí mật của mình. Nhưng rủi thay, gần đây các người lại bất cẩn, và tối nay, bí mật nguy hiểm nhất của các người sắp bị tiết lộ cho cả thế giới. Trừ phi chúng ta ngăn chặn được việc đó, bằng không tôi đoán chắc với ông rằng hậu quả sẽ cực kỳ tai hại.
Bellamy trợn mắt thảng thốt.
– Giá như ông không tấn công tôi, – Sato nói – thì ông đã nhận ra rằng ông và tôi cùng hội cùng thuyền.
Cùng hội cùng thuyền. Những từ này làm lóe lên trong Bellamy một ý tưởng hầu như vô lý. Phải chăng Sato là thành viên của Đông Tinh hội? Đông Tinh hội – thường được coi là tổ chức chị em của Hội Tam điểm – cũng có triết lý tương tự về lòng nhân ái, về tri thức bí mật, và có tư tưởng phóng khoáng. Cùng hội cùng thuyền ư? Mình đang bị còng tay! Còn bà ta thì nghe trộm điện thoại của Peter.
– Ông sẽ giúp tôi ngăn chặn gã này, – Sato nói – Hắn có khả năng gây ra một biến động lớn khiến cho đất nước không gượng dậy nồi nữa.
Gương mặt bà ta trơ như đá.
– Vậy sao các vị không theo dõi hắn?
Dường như Sato cho rằng câu hỏi đó là thừa.
– Ông nghĩ rằng tôi không thử làm sao? Kết quả truy tìm từ điện thoại di động của Solomon đã mất dấu trước khi chúng tôi kịp xác định vị trí. Một số máy khác của hắn có vẻ là số chỉ dùng một lần, gần như không thể truy dấu được. Hãng máy bay tư cho chúng tôi biết rằng chuyến bay của Langdon do trợ lý của Solomon đăng ký, bằng số di động của Solomon, bằng thẻ Marquis Jet của Solomon. Không có cách nào cả. Mà cho dù tìm ra đúng hang ổ thì tôi cũng không thể mạo hiểm xông vào và tìm cách tóm hắn được.
– Tại sao lại không?!
– Tôi không muốn cắt nghĩa việc đó, vì đây là thông tin mật, – Sato đáp, rõ ràng sự kiên nhẫn đang cạn dần – Tôi đề nghị ông hãy tin tôi lần này.
– Chà, tôi không tin được.
Mắt Sato lạnh như băng. Bà ta đột ngột xoay người và gọi vọng qua Rừng rậm.
– Đặc vụ Hartmann? Cái cặp nhé!
Bellamy nghe thấy tiếng rít của cánh cửa điện tử, và một đặc vụ sải bước vào Rừng rậm. Anh ta mang theo một chiếc cặp bằng titan rất đẹp và đặt nó lên mặt đất bên cạnh vị Giám đốc OS.
– Cứ để mặc chúng tôi, – Sato nói.
Anh chàng đặc vụ rời đi, cánh cửa lại rít lên, rồi mọi thứ chìm vào im lặng.
Sato nhặt chiếc cặp kim loại, đặt nó lên đùi và bấm khoá. Sau đó bà ta từ từ ngước mắt nhìn Bellamy.
– Tôi không muốn phải làm việc này, nhưng thời gian của chúng ta sắp hết, mà ông thì khiến tôi không còn sự lựa chọn nào khác.
Bellamy nhìn xoáy vào chiếc cặp lạ lùng và càng thêm sợ hãi. Bà ta sẽ tra tấn mình chăng? Ông lại cố kéo căng chiếc còng tay.
– Trong cặp có gì thế?!
Sato mỉm cười.
– Một thứ sẽ thuyết phục ông phải nhìn nhận mọi việc giống nhưtôi. Tôi cam đoan như vậy.’
Chương 81
Không gian ngầm, nơi Mal’akh thực hiện Nghệ thuật, được nguỵ trang rất khéo léo. Với những người mới bước vào tầng hầm nhà gã, rõ ràng nơi đó rất bình thường – một gian hầm đặc trưng với nồi hơi, tủ điện, củi đun, và đủ thứ chổi cùn rế rách. Tuy nhiên, gian hầm lộ liễu ấy chỉ là một phần không gian ngầm của Mal’akh. Phần còn lại khá rộng, dùng để phục vụ những hoạt động kín đáo thì nằm sau những bức tường ngăn.
 
Không gian làm việc riêng tư của Mal’akh là một dãy phòng nhỏ, mỗi phòng dùng cho một mục đích riêng. Lối vào duy nhất là một đường dốc bí mật dẫn từ phòng khách sang, nhìn qua không tài nào phát hiện được.
 
Tối nay, khi Mal’akh theo đường dốc đi xuống, những dấu ấn và ký hiệu xăm trổ trên da thịt gã dường như cũng trở nên sống động dưới ánh sáng màu xanh da trời toả ra từ hệ thống đèn chuyên dụng trong tầng hầm. Gã bước qua vài cánh cửa khép kín và tiến thẳng tới gian phòng rộng nhất ở cuối hành lang.
 
“Thánh điện tối linh”, như cách gọi ưa thích của Mal’akh, là một căn phòng vuông vức mỗi chiều đúng 12 feet(91) Mười hai là dấu hiệu của Hoàng đạo. Mười hai là số giờ trong ngày. Mười hai là số cánh cổng vào thiên đàng.  chính giữa gian buồng đặt một chiếc bàn đá, mỗi chiều 7 feet. Bảy là con dấu Khai huyền. Bảy là số bậc cấp của Đền thánh. Bên trên chiếc bàn có treo một ngọn đèn được tính toán kích cỡ rất cẩn thận, phát sáng theo chu kỳ các màu đã định sẵn, cứ sáu tiếng lại hoàn tất một chu kỳ theo Bảng Giờ thiêng. Giờ Yanor là màu xanh lam. Giờ Nasnia màu đỏ. Giờ Salam màu trắng.
Lúc này là giờ Caerra, ánh sáng trong phòng mang màu phớt tía. Mặc độc một chiếc khố lụa quấn quanh bẹn và cơ quan sinh dục đã thiến, Mal’akh bắt đầu công việc chuẩn bị.
 
Gã cẩn thận pha trộn các loại hoá chất tạo khói lát nữa sẽ dùng để làm cho bầu không khí thêm phần thiêng liêng. Sau đó, gã gấp chiếc áo choàng lụa mới nguyên mà gã sẽ mặc thay cho cái khố hiện giờ. Cuối cùng, gã tẩy uế một bình nước dùng để xức dầu thánh cho lễ vật. Xong xuôi, gã xếp tất cả những thứ đã chuẩn bị sẵn lên một chiếc bàn sát tường.
 
Tiếp đó, gã đến bên cái giá, lấy ra một hộp nhỏ bằng ngà, mang nó tới chỗ chiếc bàn và đặt xuống đó cùng những thứ khác. Mặc dù chưa sẵn sàng dùng đến nhưng gã vẫn náo nức mở nắp hộp để ngắm nghía báu vật.
Một con dao.
Trong lòng hộp ngà, nằm yên vị giữa lớp nhung đen là con dao hiến lễ mà Mal’akh dành riêng cho tối nay. Năm ngoái gã đã bỏ ra 1,6 triệu đô la để mua nó ở chợ đen đồ cổ tại Trung Đông.
Con dao nổi tiếng-nhất trong lịch sử
Con dao quý giá này có niên đại rất xa xưa, lưỡi thép, chuôi bằng xương, thiên hạ cho rằng nó đã tuyệt tích. Bao nhiêu thế kỷ qua, con dao từng thuộc sở hữu của vô số nhân vật quyền thế. Mấy thập kỷ gần đây, nó biến mất, chìm nghỉm trong một bộ sưu tập tư nhân bí mật. Mal’akh phải mất rất nhiều công sức mới giành được. Gã ngờ rằng con dao đã không uống máu trong vài thập kỷ… có khi còn vài thế kỷ rồi. Đêm nay, nó sẽ lại được tận hưởng sức mạnh hiến sinh đúng với mục đích ra đời.
 
Mal’akh nhẹ nhàng nhấc con dao ra khỏi “ngôi nhà” êm ái của nó và kính cẩn lau thật sáng lưỡi dao bằng một vuông lụa thấm nước tẩy uế. Kỹ năng của gã đã tiến bộ rất nhiều kể từ những trải nghiệm sơ đẳng đầu tiên ở New York. Nghệ thuật hắc ám mà Mal’akh thực hiện được định danh khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau, nhưng dù mang tên gì thì nó vẫn là một ngành khoa học chính xác. Kỹ nghệ nguyên thuỷ này từng nắm giữ chìa khoá mở ra nhiều cánh cổng quyền lực, nhưng nó bị lãng quên đã lâu, bị giáng cấp xuống thành một thứ mang màu sắc huyền hoặc và ma thuật. Một số ít người vẫn còn thực hành Nghệ thuật này, nhưng họ bị coi là điên rồ. Mal’akh hiểu rất rõ rằng đây không phải là công việc dành cho những kẻ kém năng lực. Nghệ thuật hắc ám cổ xưa, cũng giống như khoa học hiện đại là một lĩnh vực liên quan đến những công thức chính xác, những nguyên liệu cụ thể và thời gian biểu nghiêm ngặt.
 
Nghệ thuật này không phải là loại ma thuật hắc ám vô tác dụng do mấy kẻ tò mò thực hiện nửa vời; mà giống như vật lý nguyên tử, nó có tiềm năng khơi dậy sức mạnh khủng khiếp, kèm theo lời cảnh báo ghê gớm: Kẻ nào non nớt mà cứ tiến hành thì rất dễ bị tác động ngược và bị huỷ diệt.
Ngắm nghía lưỡi dao linh thiêng một lát, Mal’akh hướng sự chú ý của mình sang một tấm giấy da mịn khá dày nằm trên chiếc bàn trước mặt. Đích thân gã đã chế tờ giấy này từ da cừu non. Theo quy ước cừu non rất thanh khiết bởi chúng chưa trưởng thành về mặt sinh dục. Bên cạnh mảnh da là một cái đĩa bạc, một cái bút do gã chế tạo từ lông ống của một con quạ, và ba ngọn nến cháy le lói được bố trí quanh một cái bát bằng đồng thau. Cái bát này có chứa một thứ chất lỏng màu đỏ dày tới nửa phân.
 
Thứ chất lỏng ấy là máu của Peter Solomon.
 
Máu chính là chất cồn của sự vĩnh hằng.
Mal’akh cầm bút lông, đặt tay trái lên tờ giấy da, gã chấm đầu bút vào máu và cẩn thận vẽ đường viền bàn tay xòe rộng của mình. Vẽ xong, gã tô thêm năm biểu tượng của những Bí mật cổ xưa vào năm đầu ngón tay của bản vẽ.
Vương miện… tượng trưng cho ngôi vua sắp tới của ta.
Ngôi sao… tượng trưng cho những thiên đường đã định ra số phận ta.
Mặt trời… tượng trưng cho sự khai sáng linh hồn ta.
Đèn lồng… tượng trưng cho thứ ánh sáng le lói trong vốn hiểu biết của con người.
Và chiếc chìa khoá… tượng trưng cho thứ còn thiếu, mà tối nay ta sẽ sở hữu nốt.
Mal’akh hoàn thiện bức vẽ bằng máu và giơ tấm giấy da lên, ngắm nghía công trình của mình dưới ba ngọn nến. Gã đợi cho tới khi máu khô hẳn rồi gấp tờ giấy da dày làm ba. Vừa lẩm nhẩm một câu thần chú siêu nhiên, Mal’akh vừa châm tờ giấy da vào ngọn nến thứ ba.
 
Nó bùng cháy. Gã đặt mảnh da cháy bùng bùng vào chiếc đĩa bạc và để nó cháy hết. Khi ngọn lửa tàn, chất carbon trong da động vật biến thành một thứ bột than đen. Đợi lửa tắt hẳn, Mal’akh cẩn thận trút tro than vào chiếc bát đồng đựng máu. Sau đó, gã dùng lông quạ khuấy đều lên.
 
Chất lỏng trong bát chuyển màu đỏ sậm, gần như đen.
 
Bưng bát lên bằng cả hai tay, Mal’akh nâng cao quá đầu và tạ ơn, miệng lẩm nhẩm những lời khấn hiến sinh của cổ nhân. Sau đó, gã cẩn thận đổ hỗn hợp đen kịt ấy vào một lọ thuỷ tinh và đậy nút lại.
 
Đây là mực dùng để vẽ lên khoảng da chưa xăm trổ trên đỉnh đầu và hoàn thiện nốt kiệt tác của gã.
 
Chú thích:
(91) Foot, đơn vị đo lường của Anh, tương đương 0,3m. Ở nhiều chi tiết trong toàn bộ tiểu thuyết này, dịch giả đã quy đổi đơn vị này sang hệ mét quen thuộc với độc giả người Việt. Tuy nhiên, chỗ này dịch giả buộc phải dùng đúng đơn vị foot do con số đi kèm có liên quan đến nội dung chuyện. Nếu đổi sang hệ mét, con số sẽ bị thay đổi, không khớp với nội dung – ND.
Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+