Trang chủ » Thế giới truyện » Trinh thám hình sự

Bộ Tứ – Agatha Christie – Chương 01 – 02 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương  01

VỊ KHÁCH BẤT NGỜ

 

Một chuyến vượt biển Manche, thật là tuyệt với những
ai chỉ có việc nằm ườn trên ghế dài, bình thản chờ lúc cập bến và thong thả tập
hợp hành lý.

Nhưng với tôi, ngay từ lúc bước chân xuống tàu, tôi
đã cảm thấy thời gian qua ngắn để có thể làm được việc gì. Tôi chuyển các va li
từ chỗ này sang chỗ khác, hết mở lại đóng vào, và nếu xuống phòng ăn để dùng bữa,
tôi ngốn một hơi hết ngay, chỉ sợ tầu cập bến lúc mình đang ăn!

Vào cái buổi sáng đẹp tháng Bẩy ấy, tôi sốt ruột dạo
bước trên boong, mắt nhìn dán chặt vào vách núi đá trắng Douores, ngạc nhiên thấy
các hành khách dửng dưng ngồi trong ghế bành, chẳng buồn ngước mắt nhìn phong cảnh
quê hương. Có thể, trường hợp của họ khác hẳn tôi! Họ vừa đi nghỉ cuối tuần ở
Paris về, không như tôi trở về sau một thời gian dài ở tận Áchentina. Một năm
rưỡi trời ở một trang trại cuộc sống tự do, dễ chịu ở Nam Mỹ. Nước Anh liệu có
hứa hẹn cho tôi được như thế chăng? Tim tôi thắt lại khi nhìn thấy nó nhích lại
dần dần.

Hai hôm trước, tôi đã trở về Pháp. Sau khi giải quyết
xong một vài công việc, lúc này tôi đang lên đường về London. Tôi dự định ở lại
đây chừng vài tháng, đủ để thăm các bạn cũ, và đặc biệt một người trong số họ,
một con người hiền hậu, nhỏ nhắn, đầu tròn như chiếc kẹo và mắt màu lục:
Hercule Poirot.

Tôi muốn làm anh bất ngờ: thư cuối cùng của tôi
không nói gì về việc này. Tôi bất thình lình quyết định trở về (vì công việc, vẫn
là vì công việc!), và tôi thích thú hình dung anh sẽ vui mừng và ngỡ ngàng như
thế nào khi tôi xuất hiện.

Tất nhiên, tôi sẽ tìm gặp Poirot tại nhà; cái thời
mà công việc buộc anh phải chạy đôn đáo khắp nước Anh đã qua rồi.

Anh đã nổi tiếng khắp thế giới, và không chịu để cho
một vụ việc nào chiếm lĩnh hết thời gian. Giờ anh chỉ tham gia với tư cách
“thám tử – tư vấn”, giống như một bác sĩ nổi tiếng nào đó ở Harley
Street.

Hình ảnh quen thuộc về chàng mật thám phải cải trang
dưới những bộ dạng kỳ quái, dừng lại dò từng vết chân người để truy tìm tội phạm,
luôn làm Poirot bật cười.

“Không, anh Hastings thân mến – Poirot sẽ nói –
hãy dành kiểu ấy cho Giraud và đồng đội! Hercule Poirot có những phương pháp
khác. Trước hết là bộ óc! Trí thông minh, sự phán đoán, những tế bào xám. Chỉ
ngồi đàng hoàng trong ghế, tôi vẫn được cái gì người khác không thấy. Không cần
phải nhẩy chồm chồm, chạy lăng xăng như ông bạn chúng ta, ông thanh tra
Japp”.

Chắc chắn là ít có khả năng Hercule Poirot đi đâu
xa.

Tới London, tôi để hành lý ở khách sạn, gọi xe đi thẳng
đến ngôi nhà thân thuộc. Biết bao kỷ niệm. Tôi chỉ kịp chào qua bà chủ nhà, lao
vào thang gác, nhẩy hai bậc một và gõ cửa căn hộ của Poirot.

– Cứ vào! Từ bên trong vẳng ra giọng nói quen thuộc.

Tôi tiến lên, Poirot đã ở trước mặt, tay cầm một
vali nhỏ mà anh để rơi phịch khi nhìn thấy tôi.

Anh reo lên:

– Anh bạn Hastings! Anh bạn Hastings thân mến!

Rồi lao vào tôi, ôm hôn thắm thiết.

Rồi là chuyện trò rối rít, nói câu được câu chăng, hỏi
đáp vội vàng, thăm hỏi sức khoẻ vợ tôi, tôi đi đường ra sao, vân vân.

Yên yên một lúc, tôi mới hỏi:

– Tôi đoán là căn hộ cũ của tôi đã có người ở? Và
tôi rất muốn lại được ở chung với anh!

Nét mặt Poirot biến đổi một cách đột ngột:

– Trời! Thật không may. Anh hãy nhìn xung quanh mà
xem.

Lần đầu tiên, tôi thấy những gì quanh tôi: đặt cạnh
tường là một cái hòm kếch xù kiểu cổ lỗ, và một loạt vali.

– Anh sắp đi?

– Phải.

– Đi đâu?

– Nam Mỹ.

– Sao?

– Thật khôi hài, phải không. Tôi đang chuẩn bị đi
Rio! Mỗi ngày, tôi đều tự nhủ: không được nói gì với Hastings trong thư, lúc
mình đến anh sẽ ngạc nhiên xiết bao!

– Nhưng bao giờ anh đi?

Poirot nhìn đồng hồ.

– Một tiếng nữa.

– Thế mà tôi cứ nghe anh nói rằng từ nay không có
cái gì buộc anh đi xa nữa!

Poirot nhẩy dựng lên.

– Thôi đừng nói chuyện ấy! Bác sĩ của tôi cam đoan
là không chết đâu mà sợ; một lần này nữa, mình sẽ thử một chuyến!

Anh mời tôi ngồi ghế, nói tiếp:

– Mình xin giải thích đầu đuôi câu chuyện. Anh có biết
ngươi giàu nhất thế giới? Hơn cả Rockefeller. Đó là Abe Ryland.

– Ông vua xà phòng?

– Đích thị. Một thư ký của ông ta đã liên hệ với
tôi. Ông ta đang có chuyện rắc rối với một công ty lớn ở Rio, đề nghị tôi đến tận
nơi để điều tra; tôi đã từ chối vã nói cứ trình bày sự việc rõ ràng với tôi,
tôi sẽ cho ý kiến. Nhưng không! Quan ngài khẩn khoản: các dữ liệu chỉ có thể được
thông báo cho tôi tại chỗ! Bình thường, sự việc lẽ ra chấm dứt tại đây. Dám làm
mất thì giờ của Hercule Poirot! Ngạo ngược thật! Nhưng, anh Hastings thân mến,
cuối củng ông ta hứa tặng tôi một khoản tiền khổng lồ, đến mức tôi sinh ra xiêu
lòng… Tiền nhiều, với lại, còn một điều hấp dẫn nữa, là sẽ được gặp anh, anh
bạn ạ.

Biểu hiện thân ái ấy làm tôi cảm động.

– Vì thế tôi đã nhận lời, Poirot nói tiếp, và một tiếng
nữa tôi phải xuống tàu vượt Đại Tây Dương… Sự đời trớ trêu là thế. Thú thật,
nếu món tiền hứa hẹn không hấp dẫn như thế, tôi sẽ do dự… Vì mới đây thôi,
tôi đang chủ động tự mình tiến hành một cuộc điều tra nhỏ.

– Điều tra về?…

– Về… về… về bọn Bốn Người.

– Bốn người nào? Hy vọng anh không định nói về một bộ
tứ nghệ thuật? Về bốn cường quốc thế giới? Về Hiệp ước Tứ Cường?

Hercule Poirot thong thả nói:

– Không, tôi nói về một bộ tứ tội phạm… Và mặc dù
không phải là một bộ tứ đàn dây, nó cũng khối dây cung để bắn! Đây là một băng
tội phạm quốc tế hoặc một cái gì tương tự, và tôi nghĩ… tôi nghĩ…

– Anh nghĩ gì, hở nhà thám tử bậc thầy? Nói rõ đi chứ!

– Tôi nghĩ rằng đây là một vụ việc có tầm vóc to lớn.
Chỉ là ý riêng của tôi thôi. Song đã đến lúc tôi phải hoàn tất mọi sự chuẩn bị.
Thời gian không còn nhiều.

Tôi nài nỉ:

– Anh đừng đi. Đem trả vé tầu, anh sẽ đi sau với
tôi.

Poirot nhìn tôi vẻ trách móc:

– Vậy ra anh không hiểu tôi? Tôi đã hứa, lời hứa
Hercule Poirot. Trừ khi xẩy ra chuyện gì có tính chất sống còn, không gì có thể
giữ tôi ở lại.

– Chuyện sống còn chắc khó xẩy ra – tôi mỉm cười đáp
– trừ khi đến giờ thứ mười một xuất hiện “vị khách bất ngờ” .

Một lát lặng yên… và đột nhiên, giữa sự tĩnh lặng
âm thầm, một tiếng động lạ từ phòng bên cạnh khiến chúng tôi giật mình.

– Cái gì vậy? – Tôi thốt lên.

– Lạ thật – Poirot đáp lơi – hình như chính “Vị
khách bất ngờ” của anh đấy!

– Nhưng làm sao hắn lọt được vào phòng anh, khi mà bắt
buộc phải đi qua phòng này mới tới?

– Hastings, anh có trí nhớ rất khá, nhớ được tỉ mỉ kết
cấu của căn hộ này. Giờ, ta hãy suy luận xem.

– Tất nhiên, còn có con đường qua cửa sổ. Nhưng thế
thì là một tên trộm ? Nó đã phải leo trèo khá vất vả!

Tôi đứng dậy tiến về phía cánh cửa, thì nghe thấy từ
phía trong có tiếng nắm quả đấm. Tôi dừng lại.

Cánh cửa từ từ mở, và giữa khuôn cửa xuất hiện một
người phủ đầy bụi và bùn từ chân đến đầu.

Người hắn co giật. Hắn trân trân nhìn chúng tôi một
lát, rồi lảo đảo, ngã quỵ. Poirot lao tới, nói với lại:

– Mau, lấy rượu cồn!

Tôi vội lấy chút rượu rót vào cốc. Poirot cố cho hắn
uống một hớp, rồi chúng tôi khiêng hắn lên một giường con.

Chẳng mấy chốc hắn mở mắt, lờ đờ đảo nhìn xung
quanh.

– Anh muốn gì? – Poirot hỏi.

Người nọ mấp máy môi, thốt ra một giọng kỳ lạ:

– Ông Poirot, 14, phố Farraway.

Poirot hỏi han mấy câu. Lúc hắn không trả lời, lúc lặp
lại mỗi câu đó. Poirot ra hiệu cho tôi gọi điện thoại:

– Mời bác sĩ Ridgeway đến ngay.

May thay bác sĩ đang có nhà, và khoảng cách không
xa, nên ông đến tức thời.

– Có việc gì?

Poirot giải thích vắn tắt, rồi bác sĩ bắt đầu khám vị
khách kỳ lạ, hắn ta hoàn toàn u mê không biết gì.

– Hừm! bác sĩ Ridgeway nói sau khi khám xong. Một
trường hợp lạ lùng.

– Viêm não? – Tôi hỏi.

Nhưng ông bác sĩ bác bỏ một cách khinh thường.

– Viêm não? Không có chứng viêm não. Đó chỉ là tưởng
tượng của nhà tiểu thuyết! Không! Ngươi này hẳn bị một cơn sốc nặng. Anh ta đến
đây bởi sự sai khiến của một ý cố định, tìm ông Hercule Poirot, 14 phố
Farraway, và cứ lặp lại những tiếng ấy như cái máy, hoàn toàn không hiểu nghĩa
gì hết.

– Chứng cấm khẩu? – tôi lại gợi.

Lời đoán thứ hai này của tôi lại bị ông bác sĩ gạt
phắt mạnh mẽ hơn. Ông không buồn giải thích, mà đưa cho người bệnh một tờ giấy
và bút chì.

– Để xem hắn sẽ làm gì – ông nói.

Thoạt đầu hắn chẳng làm gì. Rồi thoát dần khỏi cơn
mê muội, hắn bắt đầu viết lia lịa. Nhưng rồi cũng đột ngột như thế, hắn buông cả
giấy lẫn bút.

Bác sĩ lượm tất cả lên, lắc đầu.

– Chẳng có gì cụ thể, chỉ có một số “4”
nguệch ngoạc đến hơn chục lần, rồi một nét hối hả bằng chữ to tướng. Tôi đoán hắn
muốn viết: 14, phố Farraway. Đây là một ca lạ. Rất lạ. Các ông có thể giữ hắn lại
đến chiều. Bây giờ tôi phải vào bệnh viện, nhưng tôi sẽ sớm trở lại và tìm mọi
biện pháp cần thiết với hắn. Hắn là một hiện tượng quá đặc biệt, đáng để theo
dõi.

Tôi nói là Poirot sắp đi, và tôi có y định tiễn ông
tới Southampton.

– Cứ để hắn đây, không sao. Hắn bị kiệt sức toàn
thân và chắc sẽ ngủ thiếp một mạch tám giờ liền. Tôi sẽ nói một tiếng với bà
Pearson, bà chủ nhà tốt bụng, dặn bà ta canh chừng.

Bác sĩ Ridgeway ra đi nhanh nhẹn như thường lệ.
Poirot vội sắp xếp lại đống vali, vừa lo lắng liếc nhìn đồng hồ.

– Không ngờ thời gian đi nhanh quá. Nào! Anh không
thể trách tôi là để anh không có việc làm nhé? Một bài toán vô song, cần lời giải:
“Vị khách của giờ chót”. Hắn từ đâu tới? Hắn là ai? Mẹ kiếp! Tôi sẵn
sàng đổi hai năm của cuộc sống để cho tàu chỉ ra khơi ngày mai chứ không phải
hôm nay. Vụ việc kỳ cục! Phải mất thời gian, rất nhiều thời gian. Hàng ngày,
hàng tháng sẽ trôi qua trước khi chúng ta tìm ra sự thật về người lạ này, về cuộc
viếng thăm bí ẩn này.

– Tôi sẽ gắng hết sức, anh Poirot. Anh có thể tin chắc.
Tôi sẽ gắng thay thế anh một cách xuất sắc.

– Ừ, ừ…

Tiếng hừ hầm của anh có vẻ thiếu sự hưởng ứng.
Poirot quý tôi thực sự, nhưng hiển nhiên không tin vào tài năng thám tử của
tôi.

Tôi cầm tờ giấy lên, vừa khẽ vò vừa nói:

– Nếu phải viết truyện, tôi sẽ lấy chuyện này làm điểm
xuất phát, và đặt tên là: “Bí ẩn của Bộ Tứ”.

Tôi vừa thốt ra mấy từ ấy thì vị bệnh nhân của chúng
tôi đột nhiên thoát khỏi u mê, nhổm dậy và nói một cách rành rọt:

– Li Chang-yen.

Hắn có vẻ như người bị đánh thức đột ngột.

Rồi ra hiệu cho tôi đừng nói gì.

Người nó tiếp tục nói bằng giọng cực kỳ rõ ràng, với
âm thanh máy móc, như đang đọc một bài học thuộc lòng:

– Li Chang-yen có thể coi là bộ óc của Bộ Tứ vĩ đại.
Ông ta là động lực, là lãnh tụ tinh thần, là người chỉ huy, vì thế tôi gọi là Số
Một. Số Hai ít khi được gọi bằng tên thật, mà được biểu hiện bằng một chữ S có
hai gạch đè lên, ký hiệu của đồng đô la, hoặc bằng hai gạch và một ngôi sao. Vậy
hiển nhiên đó là một người Mỹ, biểu tượng sức mạnh đồng tiền. Số Ba là một phụ
nữ. Phụ nữ và là người Pháp. Điều đó không còn gì phải nghi ngờ. Một ca sĩ của
đám trung lưu chăng, hay một ngôi sao của giới quý tộc, ai biết được? Về vấn đề
này, không có chỉ dẫn cụ thể. Cuối cùng, Số Bốn…

Giọng chập chờn. Hắn ngừng nói.

Poirot cúi xuống, mắt nhìn mắt, kính để hắn tiếp tục:

– Gì nữa? Số Bốn…

Bầu không khí ngột ngạt đột nhiên đè nặng lên chúng
tôi. Bộ mặt người nọ co giật một cách khủng khiếp. Poirot và tôi hồi hộp chờ đợi…

– Là Kẻ Tiêu Diệt… – Con người khốn khổ thở hắt ra
trong nỗ lực cuối cùng, rồi ngất xỉu.

– Lạy Trời! – Poirot thốt lên. Vậy ra tôi đã đúng!

– Anh nghĩ rằng…

Poirot ngắt lời:

– Chuyển hắn ta lên giường tôi, trong phòng tôi. Tôi
không thể chậm phút nào nữa, nếu không muốn nhỡ tàu. Không phải tôi muốn đi,
ngược lại là đằng khác tôi sẵn sàng bỏ chuyến đi, nhưng tôi đã trót hứa.
Hastings, mau!

Chúng tôi giao vị khách bí ẩn cho bà Pearson chăm
sóc, chạy nhanh ra ga vừa kịp nhẩy lên đoàn tàu sắp chuyển bánh.

Poirot lúc yên lặng, lúc lại lắm lời. Có những lúc
như chìm trong giấc mộng, anh nhìn đăm đăm ra ngoài cửa toa, vẻ không nghe thấy
chút gì tôi nói. Rồi đột nhiên, anh tỉnh giấc, sôi nổi nói một thôi một hồi những
lơi dặn dò, những mệnh lệnh ngắn gọn.

Qua ga Woking, có một giai đoạn êm ả. Thường lệ tàu
không đỗ ga nào trước khi tới Southampton, nhưng bỗng nhiên có dấu hiệu nào đó
buộc nó dừng lại.

– Trời ơi là trời – Poirot bỗng kêu lên – Sao mà tôi
ngốc! Bây giờ tôi đã hiểu! Chính là các thiên thần hộ mệnh chúng ta đã khiến
tàu dừng lại! Mau, Hastings, ta xuống!

Trong nháy mắt, anh đã mở cửa toa và nhẩy xuống đường
tàu.

– Ném vali xuống và nhẩy!

Tôi nghe theo kịp thời, vì vừa đặt chân xuống đất
thì đoàn tàu lại chuyển bánh. Tôi tức lộn ruột, hỏi:

– Nào, Poirot, bây giờ anh phải giải thích cho tôi
biết anh định giở trò gì?

– Đơn giản là vì tôi đã hiểu?

– Nhưng tôi thì chưa hiểu.

– Hỡi anh bạn già Hastings, nhìn anh thì thấy không
hẳn như thế. Tất cả những gì tôi yêu cầu anh lúc nãy, là xách hộ hai chiếc vali.
Đống còn lại, tôi sẽ lo.

 

 

Chương  02

VIÊN GIÁM THỊ NHÀ THƯƠNG ĐIÊN

 

May sao, tàu dừng ở nơi gần ga, cạnh đó có một ga ra để chúng tôi đến thuê xe. Nửa giờ sau, chúng tôi đã bon bon trên đường trở lại London. Chỉ lúc đó, Poirot mới chịu đáp ứng sự tò mò của tôi.

– Anh không hiểu ư? Này nhé, lúc nãy, tôi cũng như anh thôi! Nhưng giờ thì tôi thấy rõ: chẳng qua là họ muốn gạt tôi sang một bên, thế thôi.

– Cái gì?

– Phải, họ đã muốn gạt Hercule Poirot vã đã hành động rất khôn khéo. Phương pháp tinh ranh khôn kể. Nơi mà họ muốn tôi đến đã được chọn kỹ lưỡng. Họ sợ tôi.

– Ai?

– Anh còn hỏi ư? Bọn Bốn Người, còn ai nữa! Bốn tên quái kiệt hợp sức với nhau để hành động ngoài vòng pháp luật: Tên người Tàu, người Mỹ, mụ người Pháp, và… tên kia… Hastings, cầu trời cho chúng ta về kịp!

– Anh cho rằng vị khách lạ của chúng ta đang gặp nguy hiểm?

– Tôi chắc chắn!

Bà Pearson kinh ngạc thấy chúng tôi lại trở về. Không kịp giải thích gì, chúng tôi hỏi bà xem có gì xảy ra. Không có gì đáng ngại. Không ai đến, và người bệnh vẫn yên tại chỗ.

Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm khi bước vào căn hộ. Poirot là người đầu tiền đi vào phòng ngủ. Giọng anh vang lên, đặc biệt xúc động:

– Hastings! Hắn chết rồi.

Tôi lao tới. Người lạ vẫn nằm trên giường như cũ nhưng không còn thở. Tôi chạy đi tìm một bác sĩ khác Ridgeway, vì biết Ridgeway lúc này chưa về nhà. Tôi tìm được ngay một ông vui lòng theo tôi về.

– Tội nghiệp, anh ta chết rồi! Chết thật rồi. Đây chắc là một người mà ông quan tâm?

– Vâng, đại khái vậy – Poirot đáp cho qua chuyện.

– Bác sĩ xem anh ta chết vì gì?

– Thật khó nói! Một kiểu ngất xỉu, tuy nhiên hình như có dấu hiệu của sự ngạt thở. Ở đây có dùng hơi đốt không?

– Không, chỉ dùng điện.

– Vả lại cả hai cửa sổ đều mở… Tôi ước chừng anh ta chết hai giờ trước đây. Các ông đi khai tử thôi.

Bác sĩ ra về, và Poirot đi gọi điện thoại mấy nơi. Cuối cùng tôi vô cùng ngạc nhiên nghe anh gọi điện cho thanh tra Japp, ông bạn cố tri, mời ông ta đến gặp.

Poirot vừa gọi xong thì bà Pearson chạy tới, mắt mở tròn to như cái đĩa:

– Dưới nhà có một người nói là do nhà thương điên Hanwell cử đến. Tôi mời ông ấy lên nhé?

Một người to, khoẻ, mặc đồng phục đàng hoàng, xuất hiện. Anh ta hồ hởi:

– Kính chào các ông. Có nhiều chứng cớ để nghĩ rằng một con chim của chúng tôi đang ở đây! Nó vừa bay đi tối qua.

– Nó đã từng ở đây – Poirot đáp bình tĩnh.

– Lại bay đi rồi?

– Chết rồi.

Người đó tỏ vẻ yên tâm.

– Thật ư? Tội nghiệp? Biết làm sao được… Như vậy càng tốt cho cả mọi người.

– Hắn ta nguy hiểm lắm ư?

– Không, vô hại thôi, hơn thế, mắc bệnh hoang tưởng là mình bị truy bức. Bệnh tâm thần cấp tính mà. Hắn toàn nói chuyện những hội kín Trung Hoa. Cuối cùng họ phải bắt giam hắn. Bọn chúng đều thế cả.

– Hắn bị giam từ bao lâu? – Poirot hỏi

– Gần hai năm.

– A! A! – Poirot vẫn giữ nguyên nét bình thản – Ông có chắc là tâm thần hắn không bình thường?

Viên giám thị cười:

– Nếu bình thường, việc gì người ta phải giam hắn lại? Người điên nào cũng nói là mình bình thường, ông lạ gì.

Poirot không nói nữa, dẫn viên giám thị đến xem cái xác, và ông ta nhận diện ngay. Con người đã chai lỳ ấy nói:

– Thế là xong hết. Giờ tôi phải đi lo các thủ tục. Ông không phải vướng bận vì cái xác này bao lâu nữa. Nếu có điều tra, chắc ông sẽ phải ra làm chứng. Nhưng chỉ thế thôi. Xin chào.

Sau một cái nhăn mặt đặc biệt, hắn ta rút lui.

Vài phút sau, Japp tới. Viên thanh tra của Scotland Yard vẫn như mọi ngày, nhanh nhẹn và vui vẻ.

– Nào ông Poirot, tôi giúp được việc gì nào? Tưởng ông đã đi tới những bãi san hô của một hòn đảo xa xôi nào rồi.

– Japp thân mến, tôi muốn biết anh đã gặp con người tôi sắp chỉ anh xem chưa.

Poirot dẫn thanh tra vào trong phòng, nhìn cái xác nằm trên giường. Thanh tra nói nhỏ, vẻ suy nghĩ:

– Xem nào, người này có vẻ không xa lạ với tôi, mà tôi vẫn tự cho là có trí nhớ tốt. Đúng rồi! Đây là Mayerling. Nếu sai xin cứ treo cổ tôi lên.

– Nhưng Mayerling là ai?

– Một đội viên trong đội cảnh sát mật; không phải của Scotland Yard. Hắn được phái ra nước ngoài cách đây năm năm, từ đó không ai còn nghe nói đến hắn. Chúng tôi tưởng hắn đã bị thủ tiêu.

Khi Japp đã ra về, Poirot nói với tôi:

– Thêm một bằng chứng nữa. Vậy mà thằng cha này có vẻ như chết một cái chết tự nhiên.

Anh gầm gừ một cách bực tức, rồi im lặng.

Một làn gió lay động rèm cửa, khiến Poirot đột nhiên hướng chú ý về phía đó.

– Anh Hastings, tôi nghĩ rằng sau khi đặt xác lên giường anh đã mở các cửa sổ?

– Không. Nếu tôi nhớ không nhầm, cửa sổ vẫn đóng

– Sao? Cửa sổ lúc đó đóng mà bây giờ lại mở, thế là nghĩa gì?

– Tôi cho là có người đã vào đây khi chúng ta vắng mặt.

– Có thể lắm – Poirot công nhận.

Nhưng anh có vẻ như đang nghĩ điều khác.

Sau một phút suy nghĩ, anh nói:

– Thực ra không phải tôi nghĩ như vậy. Chỉ một cửa sổ mở thì tôi không nghi hoặc đến thế; điều lạ lùng là cả hai cửa sổ đều mở.

Rồi đi sang phòng bên, và thốt lên:

– Cửa sổ phòng khách cũng lại mở! Rõ ràng chúng ta đóng rồi mà.

Anh trở lại gần xác chết và cúi xuống, xem xét kỹ lưỡng khuôn mặt, miệng, mép. Lúc đứng lên, anh tuyên bố:

– Hắn đã bị bịt miệng và bị đầu độc.

Tôi kinh hãi kêu:

– Trời! Mổ tử thi, chắc rồi sẽ rõ mọi thứ.

– Sẽ chẳng khám phá ra điều gì hết. Hắn bị đầu độc bằng cách cho hít một hơi axít prussique mạnh. Tên sát nhân ép miếng bông tẩm hơi dưới mũi hắn, rồi bỏ chạy sau khi đã mở toang tất cả các cửa sổ. Axit cyanhydrique bay hơi cực nhanh, nhưng để lại một mùi hạnh đào ngai ngái. Không còn dấu tích của mùi vị đó nữa, và cũng không sẵn nghi ngờ gì đặc biệt, các bác sĩ chỉ có thể kết luận là chết tự nhiên.

Poirot cúi xuống nhìn tử thi lần nữa.

– Anh Hastings này, người này đã từng là nhân viên mật vụ. Và cách đây năm năm hắn đã ra nước ngoài.

– Nhưng hắn đã bị đưa vào nhà thương điên hai năm trời nay, vậy trong ba năm trước đó đã xảy ra những chuyện gì? – Tôi hỏi.

Poirot lắc đầu và túm lấy tay tôi.

– Chiếc đồng hồ! Hastings, hãy nhìn chiếc đồng hồ!

Cùng với anh, tôi nhìn lên bên trên lò sưởi. Chiếc đồng hồ quả lắc đã đứng lúc bốn giờ.

– Có ngươi đã đụng vào đây. Bình thường, nó phải chạy được ba ngày nữa. Tám ngày một lần mới phải lên dây.

– Người nào đó làm việc ấy nhằm mục đích gì? Để đánh lạc hướng điều tra, để mọi người cho rằng vụ án xẩy ra lúc bốn giờ?

– Không, không, anh bạn ơi! Hãy tĩnh trí lại! Hãy bắt bộ óc làm việc một chút. Chất xám ấy mà! Hãy tưởng tượng anh là Mayerling, anh nghe thấy tiếng động lạ, và có thể anh biết rằng giờ cuối của anh đã tới gần. Anh chỉ còn thời gian rất ngắn để để lại một dấu hiệu nào đó có khả năng định hướng công cuộc điều tra sau khi anh chết: Bốn giờ! Con số “4”! Bí mật của Bộ Tứ vĩ đại! Tên “Số Bốn”. “Kẻ tiêu diệt”. Hastings, anh đã hiểu chưa?

Đắm mình trong ý tưởng đó, Poirot chạy vội sang phòng bên để lại gọi điện thoại.

– Alô! Bệnh viện tâm thần Hanwell? Tôi được biết một bệnh nhân của các vị đã bỏ trốn hôm nay… Ông nói sao ạ.? Khoan đã, xin ông nhắc lại. Alô… Rõ.

Anh đặt máy, quay về phía tôi:

– Hastings, anh nghe rõ chưa? Không có vụ bỏ trốn nào cả.

– Vậy cái tay giám thị tới đây?

– Hà hà! Phải chăng tên giám thị đó là… là…

– Là ai?

– Là đích danh “Số Bốn … “Kẻ tiêu diệt”!

Tôi choáng người, nhìn Poirot. Đến lúc mở miệng được, tôi nói:

– Có một điều chắc, chúng ta sẽ nhận ra hắn nếu gặp bất kỳ ở đâu!

– Anh tưởng thế? Tôi không nghĩ như anh. Hắn có dáng điệu chậm chập, huênh hoang, mặt đỏ gay, râu mép rậm, giọng nói ồm ồm. Giờ phút này, chắc chắn hắn không còn giữ những đặc điểm đó. Còn những nét đặc trưng khác: mắt, tai, hàm răng rất đều, không có ý nghĩa lắm. Nhận diện ra hắn không dễ như anh tưởng. Nhưng lần sau tôi sẽ cẩn thận hơn.

– Anh nghĩ còn có lần sau nữa?

Poirot nghiêm hẳn nét mặt:

– Anh bạn ơi đây là một cuộc đối đầu sinh tử. Anh và tôi một bên, bọn “Bốn Người” một bên. Chúng đã thắng keo đầu, nhưng chưa loại được tôi. Từ nay về sau, hãy nhớ còn có Hercule Poirot này.

 

 

 

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+