Trang chủ » Thế giới truyện » Ngôn tình Trung Quốc

Chỉ gọi tên em – Chương 05 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Sáng sớm ngủ dậy, bước
tới phòng vệ sinh vẫn còn mơ mơ màng màng.

Đụng ngay phải cậu em
khóa dưới, cậu ta bảo: “Anh, lêu anh cái mông.” Tôi lập tức tỉnh táo, kẹp cổ
cậu ta, đe: “Vừa sáng ra đã muốn ăn đòn hả.”

“Là Từ Trì dạy em,” cậu
ta thều thào trước khi đứt hơi.

Từ Trì nói đây là tiếng
địa phương ở quê cậu ta, dùng để chào hỏi.

Cũng chẳng biết là thật
hay giả, nhưng trông bộ dạng Từ Trì chẳng giống đùa chút nào.

Nếu gặp phải con gái mà
nói câu này chắc sẽ bị kiện tội quấy rối, còn nếu phải con trai, hẳn sẽ bị tẩn
cho một trận nhừ tử.

Nhưng vẫn còn hơn cậu
chàng đó lại tụt quần xuống mời bạn chào>

Trước cửa nhà ăn, thầy
Lý đứng bàn bạc với thầy Trương một lúc, rồi thông báo: “Hôm nay chúng ta ra
ngoài uống nước đậu, cảm nhận chút ít văn hóa ẩm thực Bắc Kinh xưa.”

Tôi hỏi Noãn Noãn: “Nước
đậu là sữa đậu nành á?”

“Đương nhiên không
phải,” Noãn Noãn nói, “sữa đậu nành làm từ đậu tương, còn nước đậu làm từ đậu
xanh. Nước đậu chỉ Bắc Kinh mới có, ở nơi khác không thể uống được.”

“Có ngon không?” tôi lại
hỏi.

“Đảm bảo sẽ khiến anh có
ấn tượng sâu sắc,” Noãn Noãn nói, thái độ rất kỳ lạ.

Tôi thấy lạ, lại hỏi Từ
Trì: “Nước đậu có ngon không?”

“Sẽ khiến anh nhớ suốt
đời.” Thái độ của Từ Trì cũng rất thần bí kỳ quái.

Tôi nghĩ Cao Lượng là
người thật thà, lời nói có lẽ không giả, bèn hỏi tiếp Cao Lượng: “Nước đậu có
ngon không?”

“Ờ…” Cao Lượng ậm ờ
một hồi, nói: “Lần đầu em uống xong, ba tháng sau ngất ngưởng ngật ngưỡng.”

Ấn tượng sâu sắc, nhớ
suốt đời, ba tháng ngất ngưởng ngật ngưỡng, tại sao đều là mấy loại hình dung
này.

Trả lời có ngon hay
không lại khó đến thế sao?

Nếu như bạn hỏi: Cô bé
đó trông thế nào?

Người ta trả lời: Xinh
lắm, bảo đảm khiến cậu nhớ suốt đời.

Bạn đương nhiên sẽ rõ,
mình sắp được yế kiến một tuyệt thế gi­ai nhân rồi đây.

Nhưng nếu như người ta
chỉ trả lời: Đảm bảo khiến cậu ấn tượng sâu sắc, nhớ suốt đời, ba tháng ngất
ngưởng ngật ngưỡng.

Làm sao bạn biết cô bé
đó có xinh hay không? Dẫu gặp khủng long cũng sẽ ấn tượng sâu sắc đến cả đời
không quên, rồi ba tháng sau ngất ngưởng ngật ngưỡng mà.

Vừa bước vào tiệm nước
đậu, đã lập tức ngửi thấy một mùi men chua nghẹt mũi, khiến người ta thấy không
thoải mái cho lắm.

Bát nước đậu đặc sánh
được bê lên, màu xanh tro trong vắt; ngoài ra còn có một đĩa dưa muối, một đĩa
quẩy vòng.

Sợi dưa muối mỏng dài
được rắc lên mấy hạt vừng với dầu cay, còn quẩy vòng được rán tới vàng ruộm.

“Cái này phải ăn nóng,”
Noãn Noãn bảo tôi, ánh mắt vừa như cười lại như không cười.

Tôi lập cập bưng bát
lên, cẩn trọng kề miệng vào thành bát, chậm rãi húp một ngụm nhỏ.

“Ặc!” Tôi kêu lên thảm
thiết, nước đậu không chỉ chua mà còn có mùi kỳ kỳ như đậu phụ thối, khiến
người ta buồn nôn.

Tôi phồng mang trợn má,
bóp mũi bịt tai, nhăn nhó mặt mày, vận đủ ngũ quan mà vẫn không đuổi được cái
vị kỳ quái đó đi.

Noãn Noãn cười khúc
khích, vừa cười vừa nói: “Mau ăn ít dưa muối cho xuôi đi đã.” Tôi vội vàng gắp
một gắp dưa muối bỏ vào miệng, nhồm nhoàm nhai vài miếng, quả nhiên có tác
dụng.

“Vị nước đậu kỳ thật
đấy,” tôi nói.

“Đấy là ảo giác thôi,”
Noãn Noãn nói, “thử lại lần nữa xem.” Tôi lại bê bát lên, hít sâu một hơi, vũ
trang lại tâm lý, rồi nín thở uống một ngụm nữa

Đây nào phải ảo giác?
Đây là mùi vị kỳ quái chân thực chứ còn gì nữa. Lúc nước đậu trôi tuột xuống cổ
họng, tôi xém chút nữa thì sặc.

Xong đâu đấy, tôi đặt
bát xuống, giương đôi mắt trống rỗng nhìn Noãn Noãn.

“Nước đậu này muốn uống
được, nhất thiết phải đi kèm với dưa muối và quẩy vòng, không được thiếu thứ
nào,” Noãn Noãn nói. “Nước đậu chua, dưa muối mặn và cay, quẩy vòng giòn, khi
chua mặn cay giòn kết hợp với nhau, một hương thơm sẽ dần dần quyện mãi trong
miệng.” Noãn Noãn húp một ngụm nước đậu, gắp một miếng dưa muối, một miếng quẩy
vòng, mặt mày rạng rỡ, ăn rất ngon miệng.

Tôi càng nhìn càng thấy
kỳ lạ, không thể tưởng tượng nổi.

“Đã quá đi mất, ăn một
lại muốn ăn hai,” Noãn Noãn nói.

“Xin nhận của tiểu đệ
một lạy,” tôi nói.

Cậu em khóa dưới ngồi
bàn bên đột nhiên chạy lại, ngồi thụp xuống tóm lấy vạt áo tôi, nói: “Anh ơi,
em không xong rồi, mau đưa em đến bệnh viện.”

“Sao thế?”

“Em uống sạch cả bát
nước đậu rồi,” cậu ta nói xong liền nhắm tịt mắt.

“Phấn chấn lên đi!” Tôi
vả cho cậu ta hai phát bôm bốp.

Cậu ta mở bừng hai mắt,
đứng dậy xoa má, quay lại chỗ ngồi.

“Vừa rồi anh tát thật
đấy à?” Noãn Noãn hỏi.

“Ừ.” Tôi không nhịn nổi,
bật cười khì khì. “Cậu ta thích đùa, anh cũng vui vẻ phối hợp thôi.”

“À mà, vừa nãy nói đến
đâu rồi nhỉ?”

“Anh bảo anh muốn lạy
em.”

Tôi lập tức đứng lên
khỏi chỗ ngồi, quỳ một gối xuống đất, hai tay chắp lại, đoạn nói: “Cô nương quả
không phải người phàm.”

Noãn Noãn bật cười kéo
tôi đứng dậy, nói: “Thực ra lần đầu tiên em uống nước đậu, cũng không chịu nổi
cái vị này đâu. Về sau uống liền hơn nửa tháng, quen rồi mới nhận được mùi vị,
thậm chí còn nghiện luôn.”

“Thật đúng là đại ca
phong lưu,” tôi nói.

“Gì cơ?” Noãn Noãn hỏi.

“Là không hiểu.”

“Hả?”

“Vì có câu không hiểu
phong lưu, vì thế đại ca phong lưu, tức là đại ca không hiểu.”

“Anh uống nước đậu đần
người ra đấy à?” Noãn Noãn nói. “Em chả hiểu anh nói cái gì cả.”

“Ý anh là, anh rất rất
không hiểu,” tôi nói, “muốn hỏi em chuyện này.”

“Hỏi đi.”

“Lần đầu tiên em uống
nước đậu, phản ứng có phải cũng như anh không?”

“Ừ,” Noãn Noãn gật đầu,
“có thể nói vậy.”

“Về sau em uống liên tục
hơn nửa tháng mới quen, lại còn nghiện nữa   ?”

“Đúng vậy.” Noãn Noãn
cười khúc khích. “Hồi đó chỉ cần nghe ngóng được chỗ nào có hàng nước đậu gia
truyền, xa mấy em cũng đi bằng được.”

“Nếu như lần đầu tiên em
uống nước đậu đã thấy không thể tiếp nhận nổi,” tôi nghiêng đầu ngẫm nghĩ hồi
lâu, “thì sao lại uống tiếp liền hơn nửa tháng làm gì?”

Noãn Noãn trợn tròn mắt,
không trả lời, rồi rơi vào trạng thái trầm tư.

“Đây thật đúng là tiểu
đệ ngẫm mãi,” lâu sau, Noãn Noãn mới nói.

“Hở?” tôi nói.

“Cũng tức là không hiểu
ấy,” Noãn Noãn cười cười nói.” Vì có câu ngẫm mãi không hiểu mà.”

“Sao em cũng lại nói
chuyện kiểu đấy?”

“Làm thế để anh biết
người nghe anh nói chuyện khổ đến mức nào.”

“Em vất vả quá,” tôi
nói.

“Nói linh tinh.” Noãn
Noãn bật cười khúc khích.

“Văn hóa uống nước đậu,
nghe nói đã có hơn nghìn năm rồi. Vì thế vị của nước đậu có lạ thế nào đi nữa,
em cũng phải kiên trì uống bằng được.” Noãn Noãn dường như đã tìm được lý do
uống nước đậu. “Tóm lại, cứ cho là vì ngốc đi.”

“Em thực quá siêu đấy,”
tôi xuýt xoa khen.

“Lương Lương,” Noãn Noãn
chỉ cái bát trước mặt tôi nói, “thử nữa không?”

Tôi đưa tay bưng bát,
nhưng trước sau vẫn không có can đảm đưa lên miệng, thở dài một tiếng, rồi lại
đặt bát xuống.

Noãn Noãn bật cười, bưng
bát tôi lên. Tôi vội vàng nói: “Anh đã uống

“Không sao,” Noãn Noãn
nói, “làm được nước đậu vất vả lắm, đừng lãng phí.”

Từ Trì đi qua, thấy bát
trước mặt tôi rỗng không, liền kinh ngạc nói: “Anh Thái, anh đã uống hết rồi
á?”

“He he,” tôi chỉ cười
không đáp.

“Không sao chứ?” Từ Trì
nhìn mắt tôi, sờ sờ tay tôi, lại lắc lắc cả người tôi nữa.

“He he he,” tôi lại
cười.

“Thật không ngờ đấy,” Từ
Trì nói. “Nào! Anh em mình uống thêm bát nữa!”

“Trì huynh!” Tôi vội
vàng túm cậu ta lại, “là Noãn Noãn uống hết giúp anh đấy.”

Từ Trì bật cười ha hả,
Noãn Noãn cũng cười, còn tôi chỉ cười gượng gạo.

Tôi bắt đầu quan sát
phản ứng của mọi người, sinh viên Đài Loan ai cũng đều có vẻ có kinh hồn bạt
vía; phản ứng của sinh viên Bắc Kinh lại muôn hình muôn vẻ hơn, có những người
siêu thích uống nước đậu như Noãn Noãn, Từ Trì, cũng có những người miễn cưỡng
có thể uống được như Cao Lượng, đương nhiên còn có cả người nhắm mắt nhắm mũi
đành phải uống.

Thầy Lý lo mọi người
không quen uống nước đậu lại đói bụng, bèn gọi thêm mấy món điểm tâm như bánh
đường nướng, bánh kỳ lân, bánh mật vừng, bánh nướng mặn… ăn thêm.

Trên đường về trường,
Noãn Noãn xúc động nói: “Không hiểu vì nguyên nhân gì mà các tiệm nước đậu càng
ngày càng ít đi.”

“Anh biết nguyên nhân
đấy,” tôi nói.

“Là vì s

“Bây giờ lựa chọn về
điểm tâm phong phú như vậy, tuy nước đậu có phong vị đặc biệt, nhưng làm gì có
người trẻ nào cam chịu tập uống thứ nước thiu ấy một thời gi­an dài, cho đến
khi nước thiu biến thành mật hoa cơ chứ? Ai mà chịu được cả quá trình ấy?”

“Lương Lương.” Noãn Noãn
trầm ngâm nói: “Lời anh nói rất có triết lý đấy.”

“Thật à?”

“Ừm.” Noãn Noãn gật đầu,
cười nói: “Thật hiếm có.”

“Nếu như nam nữ trên đời
đều có thể đối với nhau chân thành thuần khiết,” tôi nhìn về xa xăm, nói: “tới
lúc đó nước đậu có thể ngậm cười tỏa hương rồi.”

“Ngậm cười tỏa hương?”

“Nếu như ai ai cũng có
thể thuần khiết, nước đậu sẽ không cần phải giả vờ chua, thiu để thử lòng con người
nữa, mà trực tiếp đem hương thơm vốn có của nó ra đối diện với con người là
được rồi.”

“Lời anh nói hệt như
nước đậu ấy,” Noãn Noãn nói, “nghe lâu rồi cũng thành quen.”

“Thế quen rồi thì có
nghiện không?”

“Không nghiện,” Noãn
Noãn cười khúc khích, “mà sẽ miễn dịch.”

Trước khi vào giảng
đường bắt đầu buổi học, rất nhiều sinh viên ra sức súc miệng cho trôi đi mùi vị
quái lạ của nước đậu trong miệng.

Tôi đoán cái vị lạ ấy
hẳn khó mà súc cho trôi được, bởi nó đã xộc thẳng vào não, lại bao phủ khắp toàn
thân rồi.

Quả nhiên, thầy giáo vừa
bước vào lớp đã hỏi: “Sao lại có mùi chua chua thế này? Các bạn vừa đi uống
nước đậu về

Rồi thầy kể rõ cặn kẽ về
từng loại nước đậu, cảm xúc như nhớ lại tình yêu đầu ngọt ngào vậy.

“Nước đậu vừa giàu dinh
dưỡng, mùi vị lại đặc biệt, đã lâu rồi không uống, tôi rất nhớ hương vị ấy.”

Thầy ơi, xin thầy đừng
nói đến nước đậu nữa, mau vào bài học cho rồi.

“Bạn sinh viên ‘Sàng
tiền minh nguyệt quang’ hôm qua đâu nhỉ?” Đây là lời đầu tiên thầy nói sau khi
trở lại chủ đề chính.

Mọi người sững ra vài
giây, rồi cậu em khóa dưới tôi mới từ từ giơ tay lên.

“Đây,” thầy cười cười,
đưa ra một cuộn giấy, “cái này tặng bạn.”

Cậu em khóa dưới bước
lên bục giảng, tháo cái chun buộc trên cuộn giấy, mở ra, đó là một bức thư pháp
cao bằng nửa người.

Bên trên có hai chữ viết
bằng bút lông, vừa đen, vừa đậm, lại vừa lớn: “Tài tử”, bên cạnh còn có cả dấu
lạc khoản.

Cậu ta mặt đần thối,
miệng cười hềnh hệch, mọi người đều hò reo phải chụp lại kiểu ảnh.

Cậu ta lúc thì tay trái
làm chữ V, tay phải cầm bức thư pháp, lúc lại đổi tay trái cầm bức thư pháp,
tay phải làm chữ V, tiếp nữa còn hai tay làm hai chữ V, mấy đầu ngón tay còn
lại kẹp lấy bức thư pháp.

Đèn flash nháy liên tục,
cậu ta cũng cứ miệng cười hi hi ngờ nghệch.

Đúng là đồ ngốc, có lẽ
cậu ta còn chẳng biết mục tiêu của tất cả các ống kính chính là bức thư pháp
nữa kìa.

Thầy giáo bắt đầu nhắc
qua về quá trình phát triển của chữ Hán từ chữ Giáp cốt, chữ Kim, chữ Triện,
chữ Lệ, chữ Khải, rồi đến chữ phồn thể, chữ giản thể.

Thầy nói xong bèn phát
cho chúng tôi một bản đối chiếu chữ phồn thể nhỏ, để tiện cho chúng tôi về sau
sử dụng, rồi nói: “Từ chữ phồn thể sang chữ giản thể dễ, nhưng từ chữ giản thể
sang chữ phồn thể khó. Các bạn sinh viên Bắc Kinh phải dụng tâm hơn mới được.” Tiếp
đó, thầy giảng đến lịch sử giản hóa Hán tự và mục đích giản hóa, rồi đến nguyên
tắc và phương pháp giản hóa.

Tôi có thể coi là một
trong những người Đài Loan đọc hiểu được chữ giản thể, bởi đã từng tiếp xúc với
mấy quyển giáo trình bằng chữ giản thể khi còn trong viện nghiên cứu.

Lúc mới đầu nói thực là
không hiểu lắm, nhưng lâu rồi cũng vỡ ra dần dần.

Thỉnh thoảng cũng gặp
phải vài chữ không hiểu, nhưng chỉ cần liên hệ chữ ấy với mấy anh em của nó,
thì vẫn có thể đoán ra được.

Chữ phồn thể giản hóa
thành chữ giản thể cũng gây ra lắm chuyện bi hài, không cẩn thận rất dễ gây
nhầm lẫn.

Tuy có vẻ phức tạp khủng
khiếp là vậy, nhưng đối với những người viết tiểu thuyết bằng chữ giản thể thì
đây lại là chuyện tốt.

Vì càng nhiều những từ
đồng âm, đồng dạng, lại càng khiến tiểu thuyết thâm thúy, thú vị, đây là đặc
quyền mà những người viết bằng chữ phồn thể không cách nào có được.

Trước khi hết giờ, thầy
giáo kể trước kia thầy thường trao đổi thư điện tử với một người bạn Đài Loan,
thời đó chức năng chuyển đổi chữ phồn thể – giản thể còn chưa hoàn thiện, đa
phần chỉ có thể dùng tiếng Anh để gi­ao tiếp.

“Thật không ngờ hai
người đều nói tiếng Trung lại phải trao đổi với nhau bằng tiếng Anh,” thầy xúc
động nói. “Kết quả là tiếng Anh của chúng tôi đều trở nên tốt hơn, còn tiếng
Trung lại thành kém

Thầy nói đoạn dừng lại
trầm ngâm, nhìn khắp toàn thể sinh viên một lượt, rồi nói: “Mong rằng về sau
các bạn sẽ không gặp phải tình trạng đáng tiếc đó nữa.”

Tan học, thầy Lý vội
vàng giục chúng tôi đến nhà ăn ăn cơm; tới nhà ăn rồi, lại giục chúng tôi ăn
cho mau mau.

“Phải tận dụng thời gi­an,”
thầy Lý nói, “đi Thiên Đàn nhất định phải đi lúc vắng người mới được.”

“Vì sao lại phải chọn
lúc vắng người để đi Thiên Đàn?” tôi hỏi Noãn Noãn.

“Đừng hỏi em,” Noãn Noãn
nói, “em cũng có biết đâu.”

“Thế vì sao đi Thiên Đàn
lúc này lại là lúc vắng người nhất?” tôi lại hỏi.

“Hôm nay là ngày cực
nóng, lại đúng giữa trưa thế này, làm gì có ai muốn ra khỏi nhà chạy lông
nhông?” Noãn Noãn trả lời.

“Vì sao…”

“Đừng hỏi vì sao nữa,”
Noãn Noãn ngắt lời tôi. “Còn hỏi nữa là em thu tiền đấy.”

Tôi rút ra một tệ đặt
trước mặt Noãn Noãn, hỏi: “Vì sao em lại xinh đẹp thế?”

“Câu này không mất
tiền,” Noãn Noãn bật cười, “vì em đẹp bẩm sinh thôi.”

Mọi người vào Thiên Đàn
từ Nam Thiên Môn, quả nhiên vì thời tiết nóng nực lại đúng vào giữa trưa, gần
như chẳng có bóng dáng du khách nào ở đây.

Vừa bước qua cổng đã
thấy một đàn đá lộ thiên có ba tầng thượng, trung, hạ hình tròn, thầy Lý nói
đây là Hoàn Khâu Đàn.

Hoàn Khâu Đàn bị hai bức
tường thấp vây quanh hình vuông, bên trong hình tròn, tượng trưng cho trời tròn
đất vuông.

Đây là nơi hoàng đế tới
tế Trời vào ngày Đông chí.

“Chúng ta đi tiếp về
hướng Bắc, lát nữa sẽ lại vòng trở lại,” thầy Lý nói.

Chúng tôi không leo lên
Hoàn Khâu Đàn, mà đi vòng men theo tầng hạ của đàn đá, theo hướng chính Bắc đi
thẳng về trước.

Vừa ra khỏi Hoàn Khâu
Đàn, liền thấy một ngôi đền có mái cong vút lợp ngói lưu ly xanh lam.

“Đây là Hoàng Khung Vũ,
là nơi đặt bài vị của Hoàng Thiên Thượng Đế và hoàng đế Tổ Tiên.” Mọi người
nghe xong liền muốn đi vào điện xem thế nào, nhưng thầy Lý nói để lát nữa, giờ
đi sang phía bên trước đã.

“Tuyệt quá, quả nhiên
bây giờ không có ai.” Thầy Lý dừng bước bên bức tường bao hình tròn, nói: “Đây
là vách hồi âm. Lát nữa hai người một nhóm, mỗi người đứng ở một đầu đường kính
của hình tròn, quay mặt vào tường nói, âm lượng không cần lớn, cũng không cần
kề sát vào tường. Mọi người thử xem có thể nghe thấy tiếng vọng không.”

Vách hồi âm có đường
kính 61,5 mét, cao 3,7 mét, dày 0,9 mét, là tường bao quanh Hoàng Khung Vũ.

Tường được xây bằng gạch
nung màu tro nhạt, từng viên gạch liền kề san sát, trơn láng, không có lấy một
khe hở, đầu tường lợp mái ngói lưu ly xanh lam.

Kỳ lạ ở chỗ, lúc nãy
nhiệt độ ngoài trời chắc chắn vượt quá 30 độ, nhưng đi men theo bức tường tròn,
lại cảm thấy vô cùng mát mẻ.

Tôi bước đến vị trí đã
định, ghé sát tai vào tường, thấp thoáng nghe thấy tiếng gió, còn cả một số âm
thanh vỡ vụn nữa.

“Lương Lương.” Tôi nghe
thấy rồi, là tiếng Noãn Noãn, nhưng âm thanh dường như đã bị cho qua tủ băng,
lạnh hơn, lại thấp hơn giọng thật

“Em là người hay là ma
đấy?” Tôi nói với bức tường.

Noãn Noãn bật cười,
tiếng cười mỏng manh, hơi giống tiếng chim hót.

“Em nghe thấy rồi,” là
tiếng Noãn Noãn.

“Anh cũng nghe thấy
rồi,” tôi nói.

“Anh ăn no chưa?” là
tiếng Noãn Noãn.

“Anh ăn no rồi,” tôi
nói.

“Lương Lương.”

“Noãn Noãn.”

“Em chẳng biết nói cái
gì nữa,” là tiếng Noãn Noãn.

“Anh cũng thế,” tôi nói.

Noãn Noãn và tôi đều rất
phấn khích, phấn khích quá lại thành ra không biết nên nói gì?

Trước đây đều là nhìn
nhau nói chuyện, giờ lại nhìn tường nói, từ tường nghe thấy lời đáp, thật không
quen tí nào.

Chúng tôi nói bừa mấy
câu chả ra đâu vào đâu, dù gì lời nói cũng không quan trọng, quan trọng chỉ là
phát ra tiếng.

Tôi giả tiếng chó sủa,
Noãn Noãn giả tiếng mèo kêu, tôi lại giả tiếng chó bị xe đụng, Noãn Noãn bèn
giả tiếng mèo bị chó cắn.

Tôi thử nói tiếng Anh,
có khi vách hồi âm linh thiêng, chưa biết chừng lại coi thường tiếng Anh, nhưng
Noãn Noãn vẫn nghe ra.

“Ta là tài tử đây, gi­ai
nhân em nơi nao?” là tiếng

Ngoảnh đầu sang liền
thấy Vương Khắc chỉ cách tôi có năm bước chân, cô bé liếc thấy thái độ của tôi,
có chút ngượng ngùng bèn nhích ra xa một chút.

“Em muốn tới Noãn Noãn!”
tiếng Noãn Noãn truyền đến.

Tôi giật thót mình,
quyết định giả chết.

“Chẳng nghe rõ gì cả,”
tôi nói.

“Đừng có giả vờ, rõ ràng
là anh nghe thấy rồi.”

“Anh có giả vờ đâu.” Tôi
nói xong liền nhận ra mình bị hớ.

Quả nhiên Noãn Noãn bật
cười hả hê, mà còn cười rõ lâu, như thể muốn khiến tôi phải thấy xấu hổ.

Cùng với tiếng cười của
Noãn Noãn, dường như tôi còn nghe thấy một tiếng nói trong lòng, có lẽ tiếng
nói ấy vẫn luôn luẩn quất trong lòng tôi, để đến tận lúc này đây, khi gặp bức
vách hồi âm, mới xuất hiện rõ ràng, trọn vẹn.

“Noãn Noãn, anh…” tôi
nói.

“Đoạn sau nghe không
rõ,” tiếng Noãn Noãn truyền lại.

“Noãn Noãn.” Nói đến
đây, tôi ngửa cổ ra sau, nén cho tiếng mình thấp nhất, nhẹ nhất: “Anh thích
em.”

“Đoạn sau vẫn nghe không
rõ ấy.”

“Đừng có giả vờ,” tôi nói.

“Em không giả vờ mà.”
Noãn Noãn dường như đã cuống lên.

Noãn Noãn, anh biết em
không nghe thấy, nhưng dù gì anh cũng nói rồi.

Đây là tiếng vọng trong
lòng anh.

Tiếng vọng này không cần
được trả lời, nó chỉ muốn được truyền đi thôi.

Thầy Lý để mọi người
chơi 20 phút, rồi mới giải thích qua về nguyên lý của vách hồi âm.

Nguyên lý này rất dễ
hiểu, sóng âm ở bên trong mặt lõm của hình tròn, nên sẽ liên tục được phản xạ
và truyền đi.

Mặt tường cứng cáp lại
nhẵn bóng, độ tản của sóng âm được giảm đến mức nhỏ nhất, vì vậy mới có thể
nghe được tiếng vọng trong vòng mấy chục mét.

Nguyên lý nói thì đơn
giản, nhưng tính toán chính xác khi xây dựng, chọn lựa vật liệu, tỉ mỉ thi
công, mới là điều kỳ diệu của bức vách hồi âm được xây dựng từ mấy trăm năm
trước này.

Lúc này tôi mới hiểu vì
sao thầy Lý nhất định chọn lúc vắng người nhất để đến đây, bởi chỉ cần đông du
khách, hàng trăm cái miệng cùng hò hét: Nhóc con, Bố ơi, Em ơi, Anh ơi, Tôi
muốn đánh rắm, Ăn shit không…

Bạn còn có thể nghe ra
cái gì nữa đây?

Đừng nói là tiếng vọng
trong mấy chục mét, kể cả có người đứng ngay gần hét lên “Cứu tôi với”, bạn
cũng chưa chắc đã nghe thấy nữa là.

Thầy Lý dẫn mọi người
trở lại trước điện lớn của Hoàng Khung Vũ. Thấy chúng tôi muốn bước vào điện,
thầy lại bật cười nói: “Đợi đã nào.”

Thầy Lý sải ba bước dài
trên hành lang từ bắc sang nam trước Hoàng Khung Vũ, rồi dừng lại trên phiến đá
thứ ba.

“Đây là đá Tam Âm. Mọi
người lần lượt đến vỗ tay ở đây, thử xem có thể nghe thấy ba tiếng vọng không,”
thầy nói.

Chúng tôi lần lượt đứng
trên phiến đá thứ ba, lấy hết sức vỗ tay, từng người vỗ tay xong, mọi người lại
quây lại hỏi han xem nghe tiếng vọng lại thế nào, rồi thảo luận đến chuyện
nguyên lý.

Phiến đá thứ ba này vừa
vặn nằm đúng tâm đường tròn của vách hồi âm, âm thanh phát ra từ đây sẽ truyền
đi bốn phía, đụng phải vách hồi âm phản xạ ngược lại, tụ về tâm ban đầu; rồi cứ
thế tiếp tục truyền đi, đụng phải vách, lại phản lại, trở về tâm.

Chỉ có điều âm thanh
cuối cùng cũng sẽ mất đi, vì vậy, tiếng vọng tai người nghe thấy sẽ càng lúc
càng yếu đi.

Trong điều kiện môi
trường cực kỳ yên tĩnh, lực vỗ tay đủ mạnh, trong tai không có ráy tai, chưa
biết chừng cũng có thể nghe thấy loáng thoáng tiếng vọng thứ tư.

“Các bạn lợi hại đấy.”
Thầy Lý vỗ tay.

“Thầy nên đứng ở phiến
đá thứ ba vỗ tay, như vậy bọn em sẽ thấy còn lợi hại hơn,” cậu em khóa dưới tôi
nói.

Thầy Lý bật cười, đứng
trên phiến đá Tam Âm, lấy hết sức vỗ tay mười mấy cái, chúng tôi đều bật cười
thích thú.

Điều này thực ra cũng
chẳng có gì, bởi trong đám sinh viên chúng tôi, bất kể là từ Đài Loan hay Bắc
Kinh, ít nhất cũng có đến một nửa học về khoa học.

Quay lại Hoàn Khâu Đàn
cao ba tầng, chúng tôi trèo thẳng lên tầng cao nhất, trên đàn tế ngoài phiến đá
trung tâm là hình tròn ra, những phiến đá quây các vòng bên ngoài đều có hình
cánh quạt.

“Phiến đá này gọi là đá
Thiên Tâm,” thầy Lý chỉ vào phiến đá tròn trung tâm, nói. “Nghe nói đứng giữa
phiến đá này dù có nói nhỏ đến đâu, tiếng vọng cũng rất âm vang, lại như thể
tiếng từ trên trời vọng xuống. Về nguyên lý thì các bạn hẳn nắm vững hơn tôi,
có thể nói cho được không?”

Nguyên lý này cũng tương
tự như đối với đá Tam Âm, đá Thiên Âm vừa đúng nằm ở tâm vòng tròn, xung quanh
lại là lan can bằng đá cẩm thạch trắng.

Sóng âm truyền đi bốn
phía, sau khi va phải lan can vòng cung kiên cố, phản xạ lại tâm vòng tròn.

Điểm khác với đá Tam Âm
là, bề mặt Hoàn Khâu Đàn trơn nhẵn, trong đàn không hề có bất cứ vật cản nào,
lại thêm bán kính của vòng tròn khá nhỏ, do vậy sau khi âm thanh phát ra, tiếng
vọng sẽ được truyền lại với tốc độ cực nhanh, khiến người nghe không sao phân
biệt nổi tiếng vọng và tiếng gốc.

Tiếng vọng và tiếng gốc
cùng hòa vào nhau, kết quả là âm thanh nghe được sẽ có cảm giác vang vọng và
cộng hưởng hơn.

Cũng vì sóng âm được
phản xạ lại từ khắp tứ phía, không thể làm rõ hướng của tiếng vọng, nên có ảo
giác như tiếng vọng đó từ trời vọng xuống.

“Thời xưa, khi hoàng đế
đứng đây tế trời, chỉ cần hô khẽ một tiếng, khắp bốn bề đều vọng lại tiếng vang
rần, như sấm truyền từ trời xuống vậy, cộng thêm không khí trang nghiêm lúc tế
lễ, mọi sự càng trở nên thần bí.”

Thầy Lý cũng nói những
phiến đá hình quạt bao quanh đá Thiên Tâm là đá ngải thanh, tầng thượng, tầng
trung, tầng hạ mỗi tầng có chín vòng đá, càng là những vòng bên ngoài càng có
nhiều phiến đá, nhưng số lượng đều là bội số của chín.

Cầu thang nối giữa các
tầng đều có chín bậc, lan can đá tầng thượng gồm 72 phiến đá, tầng trung gồm
108 phiến, tầng hạ gồm 180 phiến, không chỉ đều là bội số của chín, mà cộng lại
còn vừa đúng 360 phiến, vừa vặn ứng với 360 ngày trong năm.

Sở dĩ liên tục dùng chín
và các bội số của chín là để phối hợp với “ngày Trùng Cửu”, đồng thời nhấn mạnh
sự tối cao của trời

Thầy Lý kêu chúng tôi
lần lượt đứng thử lên phiến đá Thiên Tâm, tiếc là giờ đã bắt đầu có một vài vị
khách, trong tiếng người hơi ồn ào, hiệu quả tiếng vọng e rằng sẽ không tốt
lắm.

Còn có một bé gái cứ túm
lấy bố gào khóc, tôi gần như buột miệng kêu mọi người ngậm miệng hết, để cô bé
đứng khóc trên đá Thiên Tâm, xem xem có thể tiếng khóc chấn động trời xanh,
khiến ông trời bực mình nện sấm xuống không.

Đến lượt mình đứng lên
đá Thiên Tâm, tôi ngửa cổ nhìn trời, nói: “Xin cảm ơn.” Có thể là do tác dụng
tâm lý, tôi cảm thấy âm thanh quả thực lớn hơn thật, lờ mờ cũng nghe thấy cả
tiếng vọng.

“Anh nói cái gì thế,”
Noãn Noãn nói.

Tôi bảo với Noãn Noãn,
hồi học cấp III từng học một bài văn tên “Tạ Thiên” do Trần Chi Phiên viết.

Mở đầu có câu: “Vì những
người cần cảm tạ quá nhiều, nên đành cảm tạ ông trời vậy.” Hồi đó đọc xong mà
xúc động bồi hồi, giờ cuối cùng cũng có thể trực tiếp bày tỏ với ông trời lòng
cảm ân rồi.

“Anh còn nghe thấy cả
tiếng vọng nữa đấy,” tôi nói. “Mà không chỉ một tiếng đâu.”

“Thật không?” Noãn Noãn
rất tò mò.

“Ừ.” Tôi gật đầu. “Tổng
cộng anh nghe thấy chín tiếng vọng, tiếng thứ nhất là: Đừng khách sáo.”

“…”

“Tiếng thứ hai là…”

“Anh đừng nói nữa,” Noãn
Noãn ngắt lời tôi, “em có hỏi đâu.”

“Để anh nói đi mà.”

Noãn Noãn chẳng buồn để
ý đến tôi nữa, rảo bước đi nhanh

Tôi đành ở lại đằng sau
tự nói một mình, lần lượt từ câu thứ hai đến câu thứ tám: Ngươi vất vả rồi,
Ngươi đúng là người khách khí, Giờ rất hiếm gặp được người nào tri ân đồ báo
như ngươi, Bắc Kinh có vui không, Có quen không, Có mệt không, Có bạn mới nào
chưa.

“Tiếng vọng thứ chín là
quan trọng nhất, vì là thứ chín mà,” tôi nói. “Tiếng vọng thứ chín nghe rất rõ
ràng, đó là: Ừ, Noãn Noãn thật là một cô gái tốt.”

Noãn Noãn dừng lại, nói:
“Sao tiếng vọng thứ chín lại nhắc đến em?”

“Vì lúc tiếng vọng thứ
tám hỏi có bạn mới nào chưa? Anh liền trả lời thầm: Có, cô ấy tên là Noãn Noãn,
là một cô gái tốt,” tôi nói, “thành ra tiếng vọng thứ chín trả lời thế đấy.”

Noãn Noãn quay người lại
đối diện với tôi, khựng lại mất mấy giây, rồi nói: “Anh nói linh tinh lâu vậy
rồi, đã khát chưa?”

“Rồi.” Tôi gật gật đầu.

“Lát nữa mua chai sữa
chua uống.” Noãn Noãn bật cười.

“Được thôi.” Tôi cũng
cười.

Tôi và Noãn Noãn kề vai
đi bên nhau, em nói: “Muốn biết vừa nãy em nói gì ở đá Thiên Tâm không?”

“Em nói gì ở đá Thiên
Tâm?” tôi hỏi.

“Em muốn tới Noãn Noãn,”
Noãn Noãn nói. “Mà em cũng nghe thấy tiếng vọng nữa.”

“Em đừng có nói. Anh có
hỏi đâu,” tôi nói.

“He he, em cũng nghe
thấy chín tiếng vọng.” Noãn Noãn cười khúc khích. “Tám tiếng đầu tiên là: Được
đấy, Đi đi thôi, Nhất định phải đi, Không đi không được, Không thể không đi, Không
đi không xong, Không đi là ta dội sấm, D sấm rồi ngươi vẫn cứ phải đi.”

Tôi chạy vọt đi, Noãn
Noãn lập tức đuổi theo; tôi lách bên này lạng bên kia, Noãn Noãn vẫn theo sát
bên cạnh.

“Tiếng vọng thứ chín là
quan trọng nhất, đó là: Đây là lời hẹn giữa Noãn Noãn và Lương Lương,” Noãn
Noãn nói với tôi.

“Cũng may là em chỉ nói
linh tinh thôi,” tôi nói.

“Dù gì anh cũng nghe
thấy rồi.” Noãn Noãn nhún vai.

Lại đến Hoàng Khung Vũ,
lần này cuối cùng cũng có thể vào trong rồi.

Tổng cộng ba lần đi
ngang qua cửa Hoàng Khung Vũ mà không bước vào lần nào, chúng tôi dường như đều
đã thành Đại Vũ [18] rồi.

Bên trong đền, thẳng
hướng Bắc có một phiến đá tròn, nằm ở bài vị thờ phụng Hoàng Thiên Thượng Đế
cao nhất trong gi­an thờ thần.

Hai chái đông tây trong
đền mỗi bên xếp bốn bài vị, thờ tám vị hoàng đế đời Thanh, lần lượt là Nỗ Nhĩ
Cáp Xích, Hoàng Thái Cực, Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh,
Đạo Quang.

“Anh nhớ đời Thanh có
tất cả 12 vị hoàng đế,” tôi hỏi Noãn Noãn, “còn bài vị của Hàm Phong, Đồng Trị,
Quang Tự, Tuyên Thống đâu?”

“Có thể bọn họ thấy mình
làm Trung Quốc be bét ranh bành, nên ngại không vào ở đây,” Noãn Noãn nói.

Ra khỏi Hoàng Khung Vũ,
chúng tôi tiếp tục đi về hướng Bắc, qua cầu Đan Bệ dài hun hút, hai bên bờ
trồng toàn cây bách.

Thầy Lý nói trong Thiên
Đàn có hơn sáu vạn cây bách, được trồng dày đặc khiến nơi nàytrở nên trang
nghiêm hơn.

Cầu Đan Bệ nối từ nam
sang bắc, cao dần lên, tỏa chỉa thành ba nhánh tả, trung, hữu.

Nhánh trung là Thần đạo,
dành cho thần thánh; nhánh hữu là Hoàng đạo, dành cho hoàng đế; nhánh tả là
Vương đạo, dành cho các vương công đại thần.

Thầy Lý vừa dứt lời, tất
cả mọi người đều không hẹn mà cùng xông lên nhánh Thần đạo.

“Thần đạo vốn chẳng cần
xây làm gì,” tôi nói. “Đã là thần, lẽ nào còn cần đi bộ nữa sao?”

Noãn Noãn trợn tròn mắt,
lúc sau mới bật cười, nói: “Câu hỏi này của anh, thật khiến người ta không biết
trả lời thế nào.”

Lại có người hỏi: Đây rõ
ràng là đường, sao phải gọi là cầu?

Thầy Lý trả lời: Phía
dưới có một thông đạo hướng Đông Tây, cắt ngang cầu Đan Bệ, vậy nên gọi là cầu.

“Thông đạo này để cho
các loài gia súc như bò dê đi, đám gia súc sẽ đi đến một lò mổ cách đây vài
trăm mét để bị giết mổ, rồi làm thành đồ tế. Vì vậy thông đạo này bị gọi là Quỷ
Môn Quan, có bạn nào muốn đi thử xem không?”

Đầu óc mọi người đều rất
bình thường, chẳng ai muốn thử cả.

Cuối cùng cũng đến điện
Kỳ Niên tiêu biểu cho kiến trúc của Thiên Đàn, đây là tọa điện lớn hình tròn có
ba tầng mái, đỉnh ngọc thếp vàng, mái hiên màu lam thẫm, được ốp bằng ngói lưu
ly xanh lam. Màu xanh và hình tròn, đều tượng trưng cho trời.

Hoàng đế cử hành nghi lễ
tại đây, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Tòa điện cao chín trượng
chín (gần 32 mét), được xây toàn bằng gỗ, dùng hai mươi tám cột gỗ chống đỡ trọng
lượng của mái

Hai mươi tám cột gỗ này
xếp thành ba vòng, vòng trong bốn cột tượng trưng cho bốn mùa; vòng giữa mười
hai cột tượng trưng cho mười hai tháng; vòng ngoài mười hai cột tượng trưng cho
mười hai giờ [19]; vòng giữa và vòng ngoài cộng vào thành hai mươi tư, tượng
trưng cho hai mươi tư tiết khí một năm; tổng ba vòng là hai mươi tám, tượng
trưng cho hai mươi tám vì tinh tú.

Điện Kỳ Niên tọa lạc
trên nền đài ba tầng hình tròn bằng đá cẩm thạch trắng, mỗi tầng đều có lan can
cẩm thạch trắng khắc hoa.

Từ xa nhìn lại, mái đền
xanh lam sẫm, đá cẩm thạch trắng tinh khiết, cửa gỗ và cột gỗ đỏ sậm, lại thêm
vàng, đỏ, xanh lục, xanh trời của màu sơn ngọc tỷ, tổng thể kiến trúc mang màu
sắc đối chọi mạnh mẽ mà vẫn giữ vẻ hòa hợp.

Tôi và Noãn Noãn đứng trước
cửa lớn điện Kỳ Niên phóng tầm nhìn ra xa, cầu Đan Bệ như một nét mác trải dài
về hướng Nam, hàng cây bách cổ hai bờ xanh biếc một màu, thấp thoáng vài mái
hiên đền chùa, tầm nhìn như kéo dài vô tận.

Điều này khiến người ta
có một ảo giác như đang từ trên trời chầm chậm trượt xuống.

Noãn Noãn đi mua sữa
chua về, chúng tôi bèn cùng hưởng thụ cảm giác lâng lâng vừa trượt xuống từ
trời vừa uống sữa chua.

Mọi người rời Thiên Đàn
qua cửa Bắc Thiên Môn, thầy Lý nói muốn để chúng tôi đi thăm Đại Thạch Lạt Nhi
ở Tiền Môn.

Đại Thạch Lạt Nhi cách
Thiên Đàn không xa, chỉ đi một chút là tới.

“Đại Thạch Lạt Nhi là
khu thương nghiệp cổ nhất, và cũng phồn hoa nhất của Bắc Kinh, nơi đây tập
trung dày đặc các biển hiệu cửa tiệm cổ nhất Bắc Kinh. Đồng Nhân Đường bán
thuốc bắc, Thụy Phù Tường bán vải, Mã Tụ Nguyên bán mũ, Nội Liên Thăng bán giày
vải, Trương Nhất Nguyên bán lá trà, vân vân, đều là những cửa tiệm nổi tiếng có
hàng trăm năm lịch sử.” Thầy Lý vừa đi vừa nói, đã đến đầu phố, trên hàng rào
trạm lộng bằng sắt cao chừng một tòa nhà hai tầng, có đề ba chữ lớn thếp vàng:
Đại Sách Lan.

“Đây…” Tôi có chút
kích động, hỏi Noãn Noãn: “Lẽ nào đây chính là…”

“Đại Thạch Lạt Nhi.”
Noãn Noãn bật cười khúc khích.

“Sách Lan nghĩa là hàng
rào, có thể đọc thành Thạch Lạt à?”

“Em đã tra tự điển,”
Noãn Noãn nói, “không đọc được.”

“Vậy…”

“Đừng hỏi nữa,” Noãn
Noãn nói. “Cứ gọi theo thế đi.”

Nghe nói, thời Hiếu
Tông, để phòng trừ nạn trộm cướp ngày càng hoành hành trong kinh thành, hàng
rào này được dựng lên đầu con phố, cứ đêm xuống là đóng chặt, ở những khu rào
trọng yếu còn có binh sĩ đi tuần về đêm.

Vì ở đây tập trung nhiều
tiệm buôn bán, hàng rào được xây cao lớn, vững chắc, nên người ta gọi đây là
“Đại Sách Lan” tức hàng rào lớn.

Đầu đời Thanh có lệnh
cấm: “Trong thành gần hoàng cung, nghiêm cấm huyên náo”, vì chỗ này vừa may nằm
ngoài dải cô lập, mọi người đều đổ về đây tìm niềm vui, những khu ăn chơi như
Khánh Lạc Viên, Quảng Đức Lầu, Quảng Hòa Viên vẫn còn tồn tại đến bây giờ, thuở
đấy đều đêm đêm vang tiếng đàn ca.

Nơi đây cũng trở thành
nơi người dân thưởng trà, xem kịch, mua sắm, là một phần trong cuộc sống sinh
hoạt của người dân Bắc Kinh cổ.

Tôi và Noãn Noãn đi dạo
dọc con phố, ngay lập tức bị thu hút bởi một lầu quán có kiến trúc như hý viên
tự, bên trên còn có cả biển hiệu “Nơi sản sinh điện ảnh Trung Quốc”.

Bên trong là kiểu kiến
trúc hình vòng hai tầng, bốn bề tường có treo rất nhiều tranh ảnh lịch sử.

Vốn dĩ đây là một rạp
chiếu phim, bộ phim điện ảnh đầu tiên của Trung Quốc “Núi Định Quân” năm 1905
được chiếu chính tại đây.

Nhìn các máy móc chiếu
bóng cổ trưng bày, tôi kể cho Noãn Noãn nghe còn nhớ hồi nhỏ được đi xem chiếu
bóng ngoài trời.

Thời đó chỉ cần có lễ kỷ
niệm, là khu đất trống trước đình chùa lại được chăng một tấm vải trắng lớn, vào
buổi tối sẽ chiếu phim.

Tôi luôn thích đứng cạnh
anh thợ chiếu bóng, xem anh chầm chậm quay cuộn phim.

Noãn Noãn nói hồi nhỏ em
cũng cực kỳ thích xem chiếu bóng ngoài trời.

Ra khỏi lầu quán, lòng
tôi vương đầy những hồi ức xưa cũ, dường như thấy chính mình đã trở lại thành
thằng bé nhảy nhót nghịch ngợm thuở nào.

“Đại Sách Lan” là khu
phố đi bộ, không hề có xe cộ đi vào, những biển hiệu cổ của các cửa tiệm càng
làm tăng thêm vẻ cổ xưa cho cảnh phố.

Noãn Noãn nói ở đây có
vài nơi em dường như đã từng thấy trong những bộ phim làm về triều Thanh.

Trong khu “Đại Sách Lan”
đều là các tiệm buôn bán, nhưng tôi chẳng rủng rỉnh gì, thành ra ham hố mua sắm
cũng không cao.

Thái độ phục vụ ở đây
cũng không tồi, mỗi khi khách mua đồ, nhân viên cửa hàng thường nói: “Đây là đồ
– Ngài – mua, đây là hóa đơn – Ngài – cần, tôi để hóa đơn trong túi này, để –
Ngài – tiện cầm.” Mỗi chữ Ngài đều được kéo dài ra, cũng khá thú vị.

Mỗi khi nhìn thấy giá
tiền ghi trên một món đồ, phản ứng đầu tiên của tôi đều là đổi sang tiền Đài,
quả nhiên rất rẻ.

“Nhân dân tệ với Đài tệ
đổi

“Khoảng một đổi bốn,”
tôi nói. “Một nhân dân tệ đổi được bốn Đài tệ.”

“Ừm.” Noãn Noãn gật đầu
tỏ ra đã hiểu, rồi chỉ vào một bình hoa ghi giá 200 tệ. “Vì thế cái này giá 50
Đài tệ?”

“Là 800 Đài tệ chứ!” Tôi
trợn tròn mắt không dám tin vào tai mình.

Noãn Noãn lè lưỡi, nói:
“Em vốn không giỏi Toán mà.”

“Thế này sao gọi là
không giỏi được?” Tôi nói. “Phải gọi là rất kém.”

Tôi rút trong ví ra một
tờ 100 Đài tệ kể từ khi đến Bắc Kinh vẫn chưa được cho ra phơi nắng, nói: “Đổi
cho em lấy 100 nhân dân tệ.”

“Anh mơ đấy à!” Noãn
Noãn nói.

“Cũng được,” tôi cười
cười, “môn toán của em cũng coi như chưa hết thuốc chữa.”

Noãn Noãn dường như rất
tò mò về tờ tiền đỏ trong tay tôi, tôi bèn đưa cho em.

“Đây là Tôn Trung Sơn
mà,” Noãn Noãn xem xét xong, nói.

“Em cũng nhận ra à,” tôi
nói. “Lợi hại đấy.”

“Ai mà không nhận ra
chứ.” Noãn Noãn lườm tôi một cái.

Tôi thấy Noãn Noãn cực
kỳ hứng thú với Đài tệ, bèn lại móc ví ra tờ 1000 Đài tệ màu xanh đưa cho em.

“Sao lại là trẻ con thế
này?” Noãn Noãn tỏ vẻ nghi hoặc. “Em còn tưởng sẽ thấy Tưởng Giới Thạch chứ.”

“Hồi xưa thì đúng vậy,
mấy năm trước mới đổi rồi.

“Quả nhiên em đoán không
sai mà, các anh thế nào cũng in hình Tưởng Giới Thạch…” Noãn Noãn nói rồi đột
nhiên ngừng bặt.

“Làm sao thế?” tôi hỏi

“Em gọi thẳng tên Tưởng
Giới Thạch, anh không sao chứ?” Noãn Noãn hỏi.

“Có gì mà sao với không
sao?” Tôi lấy làm tò mò.

“Tưởng – Giới – Thạch,”
Noãn Noãn nói rành rọt từng chữ, “thật là không sao?”

“Đương nhiên không sao
rồi,” tôi nói, “em mà gọi là anh Giới Thạch, anh mới làm sao đấy.”

“Anh bệnh đấy à.” Noãn
Noãn lại trừng mắt nhìn tôi.

Tôi sực hiểu ra, mấy hôm
nay tiếp xúc vui vẻ, tự nhiên, khiến chúng tôi nói đủ mọi chuyện, quên mất rằng
giữa đôi bên vẫn còn tồn tại một số khác biệt, thậm chí là cấm kỵ.

“Nếu như mười năm trước
em gọi thẳng tên Tưởng Giới Thạch, có lẽ anh sẽ làm sao thật. Nhưng giờ thì
không rồi.”

“Vì sao?”

“Ở Đài Loan, làm gì còn
Tưởng Giới Thạch nữa!”

Noãn Noãn định nói gì đó
lại thôi, dường như cũng chợt nhớ ra những cấm kỵ giữa chúng tôi, bèn cười xòa
vài tiếng.

Noãn Noãn hẳn không biết
tâm trạng tôi lúc nói những lời này.

Đối với thế hệ sinh viên
chúng tôi thời nay ở Đài Loan, chúng tôi từng ngây thơ nhưng đó là vì nhiệt
tình.

Những chân lý và tín
ngưỡng vẫn kiên tưởng trong một gi­ai đoạn thường chưa đến vài năm đã dễ dàng
sụp đổ; mà giá trị quan mới được thiết lập cũng chẳng biết lúc nào sẽ lại rạn
vỡ?

Không phải chúng tôi
không tin lịch sử, chỉ là không biết nên tin ai?

Vì vậy, chúng tôi không
còn tin nữa, cũng không còn nhiệt tình nữa.

Nếu như tôi nói điều này
với Noãn Noãn, hẳn em sẽ chẳng thể nào hiểu nổi.

Tôi thử chuyển chủ đề
nói chuyện, móc trong túi ra một tờ 100 nhân dân tệ màu đỏ, bên trên là chân
dung Mao Trạch Đông.

Tôi đã đổi tiền đô Mỹ
trước từ Đài Loan, tới Bắc Kinh lại lấy tiền đô đổi sang nhân dân tệ.

Tôi không muốn nói với
Noãn Noãn quá trình phức tạp này, chỉ vào ba tờ tiền trong tay nói: “Giờ em thử
coi, đây là tờ 1000 Đại tệ có hình Tưởng Giới Thạch, 100 nhân dân tệ in ảnh Mao
Trạch Đông, 100 Đài tệ in hình Tôn Trung Sơn trên đó. Vậy một “tờ Tưởng Giới
Thạch” có thể đổi được hai phẩy năm “tờ Mao Trạch Đông” và một “tờ Mao Trạch
Đông” lại đổi được bốn “tờ Tôn Trung Sơn”. Em đã hiểu chưa?”

Noãn Noãn thấy thú vị,
liền bật cười, gật gật đầu.

“Đúng rồi,” tôi nói,
“anh vừa gọi thẳng tên Mao Trạch Đông, em không sao chứ?”

“Mao Trạch Đông vẫn luôn
đứng cùng quần chúng nhân dân, gọi thẳng tên có gì sai đâu?”

“Mao – Trạch – Đông,”
tôi đọc rành rọt từng chữ, “thật là không làm sao?”

“Anh nhạt toẹt quá đấy.”
Noãn Noãn nói xong, liền nhớ ra vừa nãy mình cũng đã có phản ứng như thế, bèn

“Từ Đài Loan bay đến
Hồng Kông rồi lại bay đến Bắc Kinh, anh tiêu mất khoảng 10 tờ Tưởng Giới
Thạch.” Nói đoạn tôi hỏi Noãn Noãn: “Xin hỏi như thế là bao nhiểu ông Tôn Trung
Sơn?”

“Quá đơn giản,” Noãn
Noãn nói, “100 tờ Tôn Trung Sơn.”

“Thế bằng bao nhiêu tờ
Mao Trạch Đông?” tôi lại hỏi.

“25 tờ chứ gì,” Noãn
Noãn vừa cười vừa trả lời.

“Tiếp theo là một câu
hỏi rất uyên thâm,” tôi nói. “Nếu anh tiêu hết hai ‘tờ Tưởng Giới Thạch’, 3 ‘tờ
Mao Trạch Đông’, 4 ‘tờ Tôn Trung Sơn’, xin hỏi anh đã tiêu hết bao nhiêu ‘tờ
Mao Trạch Đông’?”

“Hả?” Noãn Noãn sững
người.

Chúng tôi bước vào thiệm
Thụy Phù Tường, bên trong bày đầy các xấp vải lụa muôn hình muôn vẻ, khiến
người ta hoa hết cả mắt.

Ở đây còn có một quầy
cắt may, khách hàng chọn vải xong, người thợ may có thể giúp khách may y phục
vừa vặn.

Cũng có thể đặt may
xường xám, đo các số đo, chọn vải xong, chóng một chút là hôm sau có thể gi­ao
hàng; nếu là khách du lịch nước ngoài, cửa tiệm còn gửi xường xám đã may xong
đến tận khách sạn cho khách.

“Chín ông Mao Trạch
Đông!” Noãn Noãn đột nhiên nói.

Tôi giật thót người,
người trong cửa tiệm dường như cũng đều giật mình, ầm ập ném tới những ánh nhìn
kỳ lạ.

“Đấy là đáp án của câu
hỏi vừa rồi,” Noãn Noãn có vẻ ngượng ngịu, giảm thật nhỏ âm lượng.

Ra khỏi Thụy Phù Tường,
bước vào Nội Liên Thăng, liền nhìn thấy bức hoành “Tiệm giày vải số 1

“Noãn Noãn, cho anh mượn
chân em xem nào,” tôi nói.

“Định mua giày cho người
yêu hả?”

“Anh không có người
yêu,” tôi nói.

Noãn Noãn bật cười khúc
khích, cúi xuống cởi dây giày.

“Nhưng bạn gái thì có
mấy cô, phải mua vài đôi,” tôi lại nói.

Noãn Noãn khựng tay lại,
rồi buộc lại dây giày, đứng lên.

“Đùa thôi mà,” tôi vội
vàng cười cười, “anh định mua giày cho mẹ anh.”

Noãn Noãn trừng mắt nhìn
tôi, rồi lại cúi xuống tháo dây giày.

“Anh có biết cỡ chân của
mẹ anh không?” Noãn Noãn hỏi.

“Chắc là biết.”

“Thật không?”

“Hồi nhỏ hay bị đánh,
anh toàn quỳ dưới đất ôm lấy chân mẹ gào khóc: Mẹ, con sai rồi!” Tôi cười nói:
“Nhìn lâu rồi, cỡ chân mẹ cũng in sâu trong óc.”

“Toàn nói linh tinh.”
Noãn Noãn cũng bật cười.

Noãn Noãn giúp tôi chọn
một đôi giày vải để khâu thủ công, mặt giày màu đen có thêu vài bông hoa nhỏ
màu đỏ.

Đây là hàng khuyến mại,
giá 88 nhân dân tệ, tôi rút tờ 100 nhân dân tệ ra, rồi gọi Noãn Noãn lại: “Nào,
chúng ta cùng tạm biệt Mao chủ tịch một tiếng,” tôi nói.

Noãn Noãn chẳng buồn để
ý đến tôi, đi thẳng ra ngoài.

Nhân viên bán hàng trả
lại cho tôi một tờ 10 tệ và hai đồng 1 tệ.

“Em xem,” tôi bước tới
cạnh Noãn Noãn, chỉ vào chân dung Mao Trạch Đông trên tờ 10 tệ, nói: “Mao chủ
tịch không nỡ xa bọn mình, thay quần áo cái lại trở về rồi này.”

“Bắc thất!” Noãn Noãn
nói.

“Mắng hay lắm,” tôi nói,
“câu này đúng là dùng thế đấy.”

Ra khỏi Nội Liên Thăng,
Noãn Noãn nói em muốn đi mua một thứ, mười phút sau sẽ quay lại, rồi liền chạy
mất tiêu.

Đợi chưa đầy năm phút,
tôi đã thấy chán, bèn mua cây kẹo gậy, ngồi xổm xuống góc tường vẽ vòng tròn.

“Mua xong rồi.” Noãn
Noãn chạy trở lại, hỏi: “Anh đang làm gì đấy?”

“Anh đang diễn cảnh đứa
trẻ bị lạc mẹ.” Tôi đứng dậy.

“Đúng là mất mặt.” Noãn
Noãn nói.

“Em mua gì thế?” tôi
hỏi.

“Mấy hôm nữa rồi anh sẽ
biết.” Noãn Noãn úp úp mở mở.

Phố đi bộ Đại Sách Lan
kéo dài từ đông sang tây không đến 300 mét, nhưng tôi và Noãn Noãn vẫn đi bộ
đến hai chân mỏi nhừ.

Vừa may trước cửa Đồng
Nhân Đường có chỗ để ngồi, chúng tôi bèn ngồi xuống nghỉ giải lao.

“Chỗ này thích thật, cho
mọi người được ngồi,” tôi nói. “Nếu như trời nóng quá đi bộ đến ong đầu, có thể
vào luôn bên trong gặp bác sĩ bốc thuốc.”ng thế.” Noãn Noãn lau mồ hôi, đưa cho
tôi một bình sữa chua.

Tôi phát hiện mùa hè ở
Bắc Kinh dường như không thể thiếu được sữa chua lạnh.

“Hay đọc tin trên báo về
Đại Sách Lan, đến hôm nay mới có dịp đến đây dạo phố,” Noãn Noãn nói.

“Là những tin thế nào?”
tôi hỏi.

“Phần lớn đều là giới
thiệu về các cửa tiệm cổ hàng trăm năm, thỉnh thoảng cũng có thông tin về việc
dỡ bỏ tu sửa.”

“Dỡ bỏ thật á?”

“Chắc là tu sửa. Nhưng
tu sửa xong phong vị kinh kỳ có còn không thì cũng không biết được,” Noãn Noãn
nói. “Tuổi này rồi, những thứ cần thuần khiết luôn rất chóng chết.”

Em nhìn ánh chiều tà,
hồi lâu lại nói: “Dưới ánh chiều tà, bóng dáng người con gái ngồi nơi Đại Sách
Lan uống sữa chua, có lẽ về sau cũng chẳng thể nhìn thấy nữa.”

“Nhưng tinh thần của em
sẽ vẫn luôn trường tồn,” tôi nói.

“Nói cái gì thế.” Noãn
Noãn bật cười thành tiếng.

Cũng gần đến giờ về, mọi
người chầm chậm đến đầu phố phía đông Tiền Môn tập trung.

Tôi thấy biển hiệu “Toàn
Tập Đức” phía đối diện, liền hào hứng nói với Noãn Noãn: “Toàn Tập Đức kìa!”

“Muốn ăn vịt quay à?”
Noãn Noãn hỏi.

“Ừ.” Tôi gật đầu. “Hôm
nay hình như có mời miễn phí.”

“Thật không?” Noãn Noãn
giật thót mình. “Làm sao thế được?”

“Anh vừa mới thấy trước
cửa tiệm có xếp mấy băng ghế dài, chắc là mời xem miễn phí người ta ăn vịt
quay.”

“Anh…” Noãn Noãn không
nói tiếp nữa, quay ngoắt đi không thèm để ý đến tôi.

Hai mắt tôi vẫn nhìn
chằm chằm vào tiệm vịt quay Toàn Tự Đức phía đối diện.

“Lương Lương,” Noãn Noãn
nói, “nếu anh muốn ăn, lần sau đến Bắc Kinh em sẽ mời anh.”

“Đây là lời hứa trong
gió hả?”

“Hả?”

“Lúc có gió không nên
hứa gì cả, làm vậy sẽ là lời hứa gió bay đấy.”

“Em có như anh đâu,”
Noãn Noãn nói. “Em nói muốn tới Noãn Noãn, anh đến một lời hứa cho tử tế cũng
không có.”

“Xe đến rồi,” tôi nói.

“Lại vờ vịt nữa.” Noãn
Noãn khẽ hừ một tiếng.

Quay về trường ăn cơm
xong, mọi người lại tập trung trong giảng đường trưng bày chiến lợi phẩm hôm
nay.

Chiến lợi phẩm hôm nay
vô cùng phong phú, xem ra hầu bao của rất nhiều người đều đã thất thoát không
ít ở Đại Sách Lan.

Từ Trì cho tôi xem ảnh
cậu ta chụp ở Đại Sách Lan, có một bức chụp bóng lưng tôi và Noãn Noãn đang kề
vai uống sữa chua.

Nhớ tới lời Noãn Noãn
nói lúc đó: “Tuổi này rồi, những thứ thuần khiết luôn rất chóng chết.

Không biết lần sau tới
Bắc Kinh (nếu như vẫn còn có lần sau), những thứ thuần khiết nào sẽ ra đi trước
đây?

Và còn thứ thuần khiết
nào vẫn rất thuần khiết?

Nằm trên giường nhắm
chặt mắt, tôi thấp thoáng nghe thấy vài âm thanh.

Có lẽ là do ảnh hưởng
của vách hồi âm ở Thiên Đàn, tiếng cười của Noãn Noãn vẫn cứ vọng lại trong tim
tôi.

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+