Trang chủ » Thế giới truyện » Ngôn tình Trung Quốc

Đức Phật và Nàng p1 – Chương 09 – 10 

Đăng ngày 12/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương 9: Tôi muốn xin
thôi việc

 

Tôi cùng mẹ con Ku­mara­ji­va,
nhà vua và đại thần Wen­su đến trước cổng thành nghênh đón đức vua Khâu Từ. Vì
giờ đây tôi đã biết cậu là là Ku­mara­ji­va, nên tất nhiên tôi hiểu vì sao cái
tên Wen­su nghe quen đến vậy, thì ra là Wen­su, một huyện bên cạnh Ak­su, thuộc
tỉnh Tân Cương. Hai nghìn năm trước, Wen­su chỉ là một quốc gia nhỏ, lệ thuộc
vào Khâu Từ.

 

Sở dĩ quốc gia nhỏ bé
này có trong trí nhớ của tôi là vì Ku­mara­ji­va. Cuộc luận chiến nổi tiếng đó
sử sách gọi là cuộc luận chiến ở Wen­su, nó được xem như một bước ngoặt quan
trọng trong cuộc đời đầy thăng trầm nhưng lẫy lừng của Ku­mara­ji­va. Sách sử
chép rằng, chính nhờ cuộc luận chiến này mà tiếng tăm của Ku­mara­ji­va “vang
khắp vùng Pamirs, chấn động hải ngoại”, “được quốc vương nhiều nước trọng vọng”.
Bởi vậy, đức vua Khâu Từ đã phải đích thân đến đón Ku­mara­ji­va, không để các
nước khác tranh giành hiền tài.

 

Nghi thức đón tiếp diễn
ra rất long trọng, thảm đỏ được trải đến tận hoàng cung, âm nhạc rộn ràng không
dứt, hoa thơm vương ngập lối đi. Tôi nhớ vị vua này tên Bạch Thuần, vương triều
nhà Bạch vốn do Ban Siêu dựng lên, Tây Vực đô hộ phủ của Ban Siêu đặt tại Khâu
Từ. Từ thời Ban Siêu cho đến cuối đời Đường, rồi sau đó Khâu Từ bị người Hồi
Hột (Ujur) tiêu diệt, trong suốt tám trăm năm, vương quốc Khâu Từ đều do nhà
Bạch nắm quyền cai quản.

 

Vị vua Khâu Từ này rất
giống Ji­va, cũng da trắng, mũi cao, mắt to và sâu, lông mày dày và rậm. Có lẽ
Bạch Thuần chưa đến bốn mươi tuổi, thời trẻ chắc hẳn rất tuấn tú. Nhà vua không
cắt tóc ngang vai như những người đàn ông khác, phía trước để mái lửng, phía
sau quấn búi lên đỉnh đầu, rồi buộc gọn lại bằng một mảnh vải nhiều màu, thả
xuống sau gáy.

 

Điều thú vị là trán của
nhà vua cũng được nén dẹt xuống. Trong “Đại Đường Tây Vực ký”, Huyền Trang từng
viết về tập tục nén đầu ở Khâu Từ. Họ dùng một tấm gỗ ép chặt phần đầu phía
trước của đứa trẻ. Nhưng tập tục này chỉ được phép áp dụng đối với thành viên
của hoàng thất. Thật mừng là Ku­mara­ji­va xuất gia từ nhỏ, nếu không vẻ điển
trai mê hồn của cậu chắc chắn sẽ bị tập tục này hủy hoại.

 

Tôi tiếp tục quan sát
trang phục của quốc vương. Cũng là áo choàng ngắn, cổ bẻ, ống tay hẹp, thắt eo,
đi ủng cao đến đầu gối, nhưng bên ngoài còn khoác thêm một chiếc áo tay lỡ với
những hoa văn thêu kim tuyến cầu kỳ. Một thanh kiếm dài đeo bên hông, trên tay
còn có thêm một thanh đoản kiếm. Có vẻ như nhà vua rất thích dùng kiếm.

 

Thoáng thấy mẹ con Ku­mara­ji­va,
nhà vua vội sải những bước dài về phía trước, dang rộng tay ôm chầm lấy hai
người. Hai mẹ con Ku­mara­ji­va dường như rất xúc động, họ xa nhà những bốn năm
trời kia mà. Tôi nghe được bập bõm đoạn đối thoại của họ. Đức vua chúc mừng
thành tích học tập và cuộc luận chiến thành công của Ku­mara­ji­va. Ông nói
rằng đã chuẩn bị mọi thứ ở Khâu Từ để chờ đón hai người trở về…

 

Khi đức vua Khâu Từ đưa
mắt nhìn sang người con gái đứng cạnh Ji­va, ngài có vẻ hơi ngạc nhiên. Tôi
đang căng tai luyện nghe tiếng Tochari, không để ý đến ánh nhìn đột ngột đó,
nên không kịp phản ứng, bất giác nở một nụ cười ngờ nghệch. Nụ cười chưa kịp tắt,
trong tôi chợt nhen lên một cảm giác bất an, thôi thế là xong, tôi mất điểm
hoàn toàn rồi, những nghi lễ mà tối qua tôi đã được học đã biến mất khỏi đầu
tôi, không để lại dấu vết.

 

Đức vua Khâu Từ cũng ở
lại trong cung, nhưng ngài ngự tại một cung điện khác. Yến tiệc buổi tối vẫn
như thường lệ, được tổ chức trên đại điện, tôi cũng được tham dự. Nhưng vì mẹ
con Ku­mara­ji­va không ăn tối nên chúng tôi chỉ được uống nước suông. Đôi mắt
mở to của tôi dán chặt vào món thịt nướng trên bàn của hai vị quốc vương, miệng
nuốt nước bọt ừng ực. Không có ca nhạc, không có hát múa, buổi tiệc chỉ là bữa
cơm thân mật trong gia đình nhân dịp đoàn tụ. Tôi cảm thấy lạc lõng, nên chẳng
bao lâu, tôi bắt đầu giở trò ngọ ngoạy trên chỗ ngồi của mình.

 

Đột nhiên tôi bắt gặp ánh
mắt quen thuộc chiếu về phía mình, là Ku­mara­ji­va. Cậu ta đang mím chặt môi,
cố nhịn cười. Tôi liếc nhìn xung quanh để chắc chắn không có ai chú ý, sau đó
bóp mũi, lè lưỡi ra chọc cậu ta, Ku­mara­ji­va khổ sở mím chặt môi hơn nữa. Cậu
quay người sang nói với hai vị quốc vương, rằng đêm đã khuya, đức vua Khâu Từ
đi đường đã thấm mệt, ngài nên về nghỉ ngơi sớm. Sau đó, mọi người cùng nâng
cốc (chúng tôi chỉ được phép uống nước) chúc tụng lần cuối, rồi kết thúc bữa
tiệc.

 

Tôi trở về với cái bụng
rỗng không, mắt mờ đi vì đói, vội vàng hạ lệnh cho cô hầu nữ nấu chút gì đó lót
dạ. Trong thời gi­an chờ đợi đồ ăn, tôi nằm im trên giường cố gắng hạn chế tiêu
hao năng lượng. Trong cơn mê man, một mùi hương ngào ngạt bất chợt bốc lên, tôi
bật dậy và nhìn thấy đôi mắt sâu như hai vực nước long lanh ánh cười đang đứng
bên giường, trên tay là một đĩa thịt nướng, thơm chết người!

 

Tôi kéo vai cậu ta
xuống, cảm động nói:

 

– Ra­ji­va, cậu thật tốt
bụng!

 

Thực ra tôi đã suy nghĩ
rất nhiều về cách xưng hô với Ku­mara­ji­va. Tên tiếng Phạn của cậu ta rất khó
đọc, tên tiếng Hán nghe có vẻ khách sáo. Trong các tài liệu liên quan, thì tên
cậu ta có lúc là Ra­ji­va, có lúc là “Ji­va”. Sách cổ thường gọi cậu ta là Ji­va,
còn trong văn bản hiện đại thì đều viết là Ra­ji­va. Nếu phân tích rạch ròi,
thì Ku­mara là họ, Ji­va mới là tên. Nhưng nếu chỉ gọi là Ji­va, nghe không ổn
lắm. Bởi vậy, sau khi suy đi tính lại, tôi quyết định gọi cậu ta bằng cách của
những người hiện đại, Ra­ji­va. cậu ta cũng vui vẻ chấp nhận.

 

Lúc buông tay ra tôi mới
nhận thấy khuôn mặt cậu ta đỏ như gấc chín, ánh mắt ra sức tránh né, không dám
nhìn thẳng vào tôi. Bộ dạng ngượng ngùng, xấu hổ ngây thơ đó thật đáng yêu!

 

Trời đất, tôi vừa làm gì
thế này! Lại vỗ một cái thật mạnh vào đầu tự trừng phạt. Cậu ta giật mình, lo
lắng hỏi:

 

– Ngải Tình, sao vậy?

 

Nhìn khuôn mặt đang đỏ
bừng vì thẹn thùng của cậu ta, tôi bỗng bối rối. Đón đĩa đồ ăn từ tay Ku­mara­ji­va,
tôi giả đói giả khát cắm đầu gặm món thịt nướng để che đi nỗi xấu hổ đang dâng
đầy. Làm sao có thể nói để cậu ta hiểu tôi áy náy về hành động mất kiểm soát
khi nãy của mình đến thế nào. Dù cậu ta vẫn ít tuổi, tôi cũng không thể có
những cử chỉ thân mật một cách tự nhiên như ở thời đại của tôi được. Vì dù sao
có một thân phận hết sức đặc biệt và điều đó không bao giờ có thể thay đổi.

 

Một lúc sau, sắc mặt Ku­mara­ji­va
mới trở lại trạng thái bình thường, cậu lấy giọng vu vơ hỏi tôi:

 

– Hôm nay chúng ta học
bài gì?

 

Tôi thở dài, ngừng nhai
thịt:

 

– Cậu mời người khác dạy
đi, tôi không dạy cậu nữa đâu.

 

Ku­mara­ji­va tỏ ra hết
sức kinh ngạc, khuôn mặt vừa tan sắc đỏ đã chuyển sang tái nhợt:

 

– Vì sao? Tôi đã làm gì
sai ư?

 

– Cậu không làm gì sai
cả. Chỉ tại tôi không đủ trình độ để dạy cậu nữa. Cậu là Ku­mara­ji­va kia mà!

 

Khi giảng “Luận ngữ” tôi
không có sách, cũng không thuộc hết. Tôi chỉ giảng cho cậu ta những phần tôi
thuộc và tất nhiên là trật tự các bài đã bị đảo lộn, một số chỗ tôi còn không
nhớ chính xác. Cậu ta vốn thông minh tuyệt đỉnh, chỉ đọc một lần là nhớ ngay.
Nếu tôi tiếp tục dạy học như vậy, trong đầu cậu ta sẽ đầy ắp những lỗi sai. Làm
sao cậu ta trở thành dịch giả kinh Phật hàng đầu Trung Quốc được? Tôi cũng
không gánh nổi tội lỗi tày trời đó. Sự nghiệp phát triển Phật giáo tại Trung
Nguyên vẫn đang trông chờ cậu ta kia mà!

 

– Nhưng, nhưng mà, cô là
một giáo viên rất giỏi!

 

Có chút run rẩy trong
giọng nói của Ku­mara­ji­va.

 

– Cô giảng bài rất hay,
nên tôi chỉ nghe một lần là nhớ.

 

– Đó là vì cậu thông
minh, không phải do tôi dạy giỏi.

 

Tôi nhìn thẳng vào hai
vực nước trong vắt ấy, nghiêm nghị:

 

– Ra­ji­va, cậu là người
thông minh nhất mà tôi từng gặp.

 

Giọng nói của cậu ta êm
dịu và lôi cuốn như một vò rượu ngon được ủ nhiều năm, nhưng khẩu khí chắc
nịch:

 

– Ngải Tình, cô cũng là
cô gái thông minh nhất mà tôi từng gặp. Vốn hiểu biết của cô rất phong phú và
điều quan trọng hơn là, cô am hiểu sâu sắc Phật pháp. Vì có người thầy như cô,
Ra­ji­va cảm thấy rất hứng thú với Trung Nguyên. Tôi rất mong được đặt chân đến
đó, để có thể tận mắt chứng kiến mảnh đất, bầu trời và không gi­an như thế nào
mà có thể khai sinh ra một người con gái thông minh, xinh đẹp như Ngải Tình.

 

Những câu nói ấm áp được
thốt lên bằng sự chân thành, giúp tôi cảm thấy tự tin hơn. Bất giác một câu hỏi
hiện ra trong đầu: Không lẽ cảm tình dành cho vùng đất Trung Nguyên của Ku­mara­ji­va
bắt nguồn từ tôi ư? Nhưng sự thực là tôi không thông minh, tôi đã đánh cắp kiến
thức của người khác, kể cả thành quả dịch thuật của Ku­mara­ji­va. Vậy mà cậu
ta vẫn khen ngợi tôi có tuệ căn. Nếu ở vào thời hiện đại, chắc chắn tôi sẽ bị
kết tội vi phạm bản quyền. Thế nên, tôi cứ cúi gằm mặt xuống, không dám ngẩng
đầu.

 

– Nhưng mà…

 

Ku­mara­ji­va cố nhịn
cười khi tôi ngước bộ mặt âu sầu lên nhìn cậu ta:

 

– Nhưng nếu không có vẻ
mặt ngây ngô kia thì cô sẽ càng thông minh hơn…

 

Tên ranh, dám trêu cả cô
giáo! Tôi bật dậy định vít cổ cậu ta xuống, nhưng cậu ta nhanh như chớp, cười
ngất và né sang một bên. Tôi đuổi cậu ta chạy vòng vòng. Ra­ji­va tuổi trẻ chân
dài, tôi già cả không bắt kịp. Nhưng tôi không tin mình không tóm được cậu, nếu
thế tôi ra đời trước cậu ta mười năm thật oan uổng quá! Tôi kêu lên một tiếng
“ui da”, rồi ngã sõng soài ra đất. Quả nhiên cậu ta vội chạy đến, vẻ mặt lo
lắng hỏi tôi có sao không. Nhân lúc cậu ta không đề phòng, tôi đã lập tức giơ
tay tóm lấy cổ cậu ta.

 

– Tên ranh, từ nay về
sau cấm chê cô giáo ngây ngô nhé! Như thế không gọi là ngây ngô mà là thật thà,
nhớ chưa? Tôi là cô giáo của cậu, cậu phải tôn trọng tôi, biết chưa? Dù cậu có
là Ku­mara­ji­va đi nữa, trước mặt tôi cũng phải tỏ ra ngoan ngoãn!

 

Tôi lắc mạnh chiếc cổ
dài thanh tao và nhìn vào khuôn mặt đang ngày càng ửng đỏ của cậu ta. Hình như
tôi xiết tay hơi mạnh. Vội vàng buông cậu ta ra, tôi sát lại, ghé mắt nhìn:

 

– Này, tôi có mạnh tay
quá không? Cậu có đau lắm không? Xin lỗi nhé!

 

Ánh mắt trên khuôn mặt
đỏ như gấc chín ấy lại tìm cách lẩn trốn. Cậu ta quay mặt đi, tách tôi ra một
đoạn, miệng lí nhí:

 

– Ngải Tình, tiếp tục
dạy tôi, được không?

 

Tôi lại thở dài, tay túm
cằm suy nghĩ:

 

– Nhưng tôi không có
giáo trình, tài liệu gì cả. “Luận ngữ” mà tôi dạy cậu đều là dựa vào trí nhớ,
mắc không ít lỗi sai. Người xưa có câu: dạy sai kiến thức chi bằng không dạy,
chớ làm hỏng học trò.

Đức Phật và nàng

 

Vẫn khuôn mặt đỏ lựng
nhìn tôi, nhưng ánh mắt trở nên long lanh và khóe môi hé một điệu cười rạng rỡ:

 

– Cô lo lắng điều này ư?
Có khó gì đâu!

 

 “To teach or not
to teach, this is a ques­tion”.

 

Tôi không có cách nào từ
chối, nhưng lại sợ sẽ truyền đạt sai kiến thức cho cậu ấy. Lẽ ra tôi không nên
xuất hiện trong cuộc đời cậu ấy. Không có tôi, cậu ấy vẫn có thể trở thành vị
pháp sư lừng danh trong lịch sử. Nhưng nếu ngược lại thì sao? Rốt cuộc, tôi
đóng vai trò gì trong hành trình cuộc đời Ku­mara­ji­va? Liệu tôi có tác động
xấu đến cậu ấy, để rồi làm sai khác đi lịch sử? Một sự thật hiển nhiên là cậu
ấy vốn không biết nói dù chỉ một câu tiếng Hán hiện đại.

 

Thấy tôi trầm ngâm hồi
lâu, Ku­mara­ji­va đặt hai tay lên tay tôi, hơi ấm từ lòng bàn tay cậu lan tỏa
khắp người tôi.

 

– Ngải Tình, chính Phật
tổ đã an bài để tôi được gặp cô, tôi thực sự trân trọng mối duyên này. Tôi thật
lòng muốn học tiếng Hán, nhưng nếu cô không muốn dạy, cũng không sao, hãy đến
Khâu Từ cùng tôi, rồi mới trở về Trung Nguyên, được không?

 

Trong đôi mắt màu xám
nhạt long lanh ngấn nước phản chiếu khuôn mặt ủ dột của tôi. Tôi chỉ là một
người khách qua đường, sớm muộn tôi cũng sẽ phải trở về thế giới của mình, dù
cho chiếc đồng hồ vượt thời gi­an đang tạm thời gặp sự cố.

 

Nhưng việc tôi vượt thời
gi­an và gặp gỡ Ku­mara­ji­va thời niên thiếu, nếu không dùng chữ “cơ duyên”
thì còn có cách giải thích nào khác nữa? Hai hàng dấu chân trên cát của chúng
tôi chỉ là tình cờ hợp thành một, khi hành trình ngắn ngủi đó qua đi, sẽ không
còn bất cứ sự gặp gỡ nào nữa. Vậy thì, việc gì tôi phải suy nghĩ nhiều đến vậy?
Chỉ cần từ nay về sau tôi thận trọng hơn trong mọi ứng xử, không thể hiện ra
bất cứ dấu hiệu mang nét đặc trưng của thời đại mình, thì tôi sẽ không tác động
và làm thay đổi lịch sử. Nhưng, điều quan trọng hơn hết thảy đó là, tôi thực sự
mong muốn được ở bên chàng trai thiên tài này mỗi ngày, để được đón nhận và cảm
nhận tình cảm nồng ấm từ cậu ấy.

 

– Nếu vậy, ta đồng ý
tiếp tục dạy trò.

 

Tôi lồm cồm bò dậy, phủi
sạch bụi trên mông:

 

– Thầy trò ta cùng ôn
lại kiến thức của buổi học trước.

 

Tôi phải nhanh chóng sửa
đổi phương thức gi­ao tiếp bằng tiếng Hán hiện đại của cậu ta mới được.

 

Cậu ta vừa vui mừng vừa
ngạc nhiên, có vẻ chưa thích ứng với lối nói văn ngôn trang trọng đó của tôi,
nhưng cũng không thắc mắc, vội vàng đứng lên tìm tập giấy nháp.

 

Tối hôm sau, cậu ta xuất
hiện ở cửa phòng tôi với cuốn “Luận ngữ” trên tay.

 

 

 

Chương 10: Chúng tôi đến
Khâu Từ

 

Cuối cùng, chúng tôi
cũng lên đường đi Khâu Từ. Buổi đưa tiễn diễn ra rất náo nhiệt, dân chúng Wen­su
từ mọi ngả đổ ra phố chính, đứng chen chân hai bên đường. Đức vua Wen­su đích
thân cưỡi ngựa tiễn đoàn chúng tôi mấy mươi dặm.

 

Đi cùng vua chúa quả có
khác, chúng tôi được chăm sóc rất chu đáo và vương giả, khác hẳn với khi tôi đi
cùng mẹ con Ra­ji­va. Hàng ngày, Ra­ji­va vẫn đều đặn đến lán trại của tôi học
bài sau giờ tụng kinh buổi chiều. Giờ đây tôi đã có sách trong tay, nên bài
giảng cũng ngày một trọn vẹn và sâu rộng hơn, tôi luôn mở rộng, bổ sung kiến
thức mới cho Ra­ji­va. Tôi thường vận dụng những câu chuyện lịch sử làm dẫn
chứng minh họa cho những đạo lý sâu xa của cổ nhân, Ra­ji­va rất hứng thú và
luôn hết lời khen ngợi.

 

Vua Bạch Thuần đã có lần
đến kiểm tra việc dạy học của tôi, tiếng Hán của ngài rất trôi chảy. Khi ấy tôi
đang giảng sách Luận ngữ “Chương 9: Tử Hãn”, Nhà vua chọn ra một câu để thử tài
tôi, câu đó là: “Tử viết: Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã”.

 

Câu này vốn rất dễ lý
giải, tôi suy nghĩ một lát, đáp:

 

– Khổng Tử than phiền
rằng con người coi trọng sắc dục hơn đức hạnh. Thế nhưng người ta ai nấy đều
ham muốn sắc dục, bởi vậy háo sắc là biểu hiện chân thực của bản tính con
người. Giữa con người và sắc đẹp có sự lôi cuốn rất tự nhiên, khó lí giải nhưng
vô cùng mãnh liệt. Cáo Tử từng nói: “Nhu cầu ăn uống và sắc dục thuộc về bản
năng tự nhiên của con người”. Nhưng đức hạnh thì không phải. Người ta, nếu có
coi trọng đức hạnh thì cũng không xuất phát từ nhu cầu tự thân giống như ham
muốn mỹ sắc. Người xưa đã vậy, người nay vẫn thế.

 

Tôi ngừng lại, Bạch
Thuần không nói gì, nhưng tôi luôn có cảm giác ánh mắt ngài nhìn tôi không mấy
thiện cảm. Cũng tại tôi ruột để ngoài da, chẳng suy nghĩ thấu đáo, cứ thật thà
phát biểu: háo sắc là thiên tính của con người. Vì sao tôi không kịp nhớ rằng,
xưa nay các vị hoàng đế vốn thích hô khẩu hiệu to tát và ưa thể diện kia chứ?

 

Do đó, tôi vội vã bổ
sung:

 

– Nhưng chữ “sắc” ở đây
không hoàn toàn là mỹ sắc, mà chỉ tất cả những thứ đẹp đẽ. Và “đức” cũng là một
trong số những thứ đẹp đẽ đó. Người coi trọng đức hạnh ngang với coi trọng cái
đẹp được gọi là quân tử. Sở dĩ Khổng Tử than phiền như vậy là vì bao năm lênh
đênh, chu du khắp thiên hạ, ghé qua hầu hết các nước chư hầu, vậy mà ngài vẫn
bơ vơ như kẻ không nhà, chỉ vì chưa gặp được vị quân vương nào xem trọng người
tài đức như xem trọng sắc đẹp. Nhưng nếu ngài còn sống đến ngày nay, gặp được
vị vua anh minh hiếu đức như đức vua đây, hẳn ngài sẽ không còn phải thở dài
buông lời cảm thán như vậy!

 

Biểu cảm trên gương mặt
Bạch Thuần vẫn không hề thay đổi, tôi hoang mang không biết “nịnh bợ” kiểu đó
có chút hiệu quả nào không? “Làm bạn với vua như chơi với hổ”, người xưa nói
quả không sai! Ông ta mới là vua của một tiểu quốc Tây Vực xa xôi mà đã vậy,
nếu là Tần Hoàng Hán Vũ thì còn đáng sợ đến thế nào? Chỉ cần khiến các ngài
không vui là mất đầu như chơi. Chợt như có một luồng hơi lạnh chạy dọc sống
lưng, tôi chỉ dám hé mắt nhìn trộm ngài. Bạch Thuần không thèm đếm xỉa đến tôi,
ngài nói vài câu với Ra­ji­va bằng tiếng Tochari rồi bước ra ngoài.

 

Ngày hôm sau, ngài nói
về tôi trước mặt hai mẹ con Ra­ji­va, rằng:

 

– Cô giái này còn quá
trẻ, thái độ thiếu nghiêm túc, thiếu tư chất của một người thầy.

 

Tôi giận quá định bỏ đi.
Ông ta tưởng tôi không hiểu tiếng Tochari chắc, hay ông ta vốn chẳng thèm quan
tâm tới tôi có hiểu hay không? Chắc chắn là tại điệu cười ngu ngốc đó, như vậy
chứng tỏ trò nịnh bợ của tôi ngày hôm qua đã tìm nhầm đối tượng rồi! Không biết
tôi đã nói điều gì khiến ông ta phật ý? Ông ta bảo sau khi về Khâu Từ sẽ tìm
thầy dạy khác cho Ra­ji­va, còn nói ở Khâu Từ có rất nhiều giáo viên người Hán
tài giỏi, kiến thức uyên thâm. Ra­ji­va cảm ơn và từ chối khéo léo, ca ngợi tôi
là giáo viên giỏi nhất mà cậu từng gặp, khen tôi là người làu thông kim cổ, tỉ
mỉ, tận tâm. Quả không làm tôi thất vọng. Bạch Thuần hết cách đành quay sang
thuyết phục Ji­va, nhưng ni cô xinh đẹp nói, bà tôn trọng ý muốn của Ra­ji­va.

 

Ji­va quả là người mẹ
tuyệt vời, chả trách lúc nào Ra­ji­va cũng yêu kính bà! Bạch Thuần cố nhiên là
không vui, tôi biết ý nên vội vã cúi đầu, vờ như không nghe thấy gì.

 

Chúng tôi tiếp tục vượt
qua Bái Thành, trước mắt không còn là sa mạc mênh mông hoang vắng nữa. Những
hẻm núi đủ mọi dáng vẻ nối tiếp nhau dằng dặc, không bóng một lùm cây, dưới ánh
mặt trời, khung cảnh hiện ra hùng vĩ hệt như hẻm núi Grand trên vùng Col­orado
của nước Mỹ. Chúng tôi bắt đầu tiến vào vùng núi thuộc dãy Thiên Sơn. Ra­ji­va
cho tôi biết, vượt qua những hẻm núi kỳ vĩ này, đi thêm hai mươi dặm sa mạc nữa
là đến biên giới Khâu Từ.

 

Một dòng sông nhỏ xuất
hiện giữa những khe núi hiểm trở. Có sông có nước là sẽ có ốc đảo. Hai bên bờ
là vách núi cheo leo, nơi đây vốn là huyết mạch quan trọng của con đường tơ
lụa. Thấp thoáng vài hộ nông dân và nhà trọ. Ra­ji­va nói với tôi, sông này là
sông Muzat, còn núi này là núi Karadag. Tôi thấy những tên gọi này rất quen
thuộc. Nơi đây cách Khâu Từ những mấy chục dặm, không biết điều gì khiến tôi có
cảm giác quen thuộc đến vậy? Tôi nhìn lại một lượt khung cảnh núi non trùng
điệp, sông suối lượn quanh, ốc đảo xanh tươi với hai bên là vách núi dựng đứng
này, một địa danh chợt lóe lên trong đầu tôi: Thiên Phật động Kizil.

 

– Ra­ji­va, Thiên Phật
động Kizil ở đây phải không? Đưa tôi đi xem có được không?

 

Tôi sung sướng tột độ.
Thiên Phật động Kizil là quần thể hang đá nằm ở cực Tây, được xây dựng sớm nhất
ở Trung Quốc. Giá trị to lớn của di tích này nằm ở các bức bích họa, vẻ đẹp của
nó có thể sánh ngang với các bức bích họa ở Đôn Hoàng. Về mặt thời gi­an thì
những bức bích họa này còn ra đời trước các bức bích họa ở Đôn Hoàng hơn hai
thế kỷ. Phong cách nghệ thuật đậm màu sắc tín ngưỡng Phật giáo Đại Thừa, là đặc
trưng của nghệ thuật Khâu Từ, là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để nghiên cứu về
quốc gia này. Tiếc thay, về sau, những người Ujur theo tín ngưỡng Hồi giáo đã
phá hoại nghiêm trọng công trình này. Thêm vào đó, khoảng thế kỷ thứ XIX, nhà
khoa học về phương Đông người Đức, A. Von Le Coq cũng đã đến đây và lấy đi
không ít hiện vật quý giá. Nếu tôi được tận mắt ngắm nhìn công trình đồ sộ này
khi nó còn nguyên vẹn và phác thảo lại, sẽ có giá trị biết bao!

 

– Thiên Phật động Kizil
nào vậy?

 

Dường như cậu ta không
hiểu. Có lẽ vì Kizil là tiếng Duy Ngôn Nhĩ (Uygur) và vào thời gi­an này, thì
vẫn chưa xuất hiện tên gọi Thiên Phật động Kizil.

 

– Đó là ngôi chùa kiểu
kiến trúc hang đá được xây dựng trên vách núi, bên trong có rất nhiều tranh
bích họa và những hang đá kéo dài hàng ngàn dặm, chạy suốt dọc vách núi
Karadag.

 

Hai mắt sáng lên, tôi
xúc động mô tả cho cậu ta nghe, nhưng Ku­mara­ji­va dường như vẫn không hiểu gì
cả. Cậu ta đưa mắt quan sát một lượt khung cảnh trước mặt rồi dừng lại ở dãy
núi đối diện:

 

– Ngải Tình, ở đây không
có hang đá nào như cô vừa nói.

 

Lẽ nào tại thời điểm
này, Thiên Phật động Kizil vẫn chưa được xây dựng? Tài liệu lịch sử ghi lại
rằng công trình này được khởi công vào khoảng thế kỷ thứ III, thứ IV sau Công
nguyên, từ thế kỷ VI­II đến thế kỷ IX, công việc xây dựng chậm lại và ngừng
hẳn. Cho nên, thời điểm khởi công là thời gi­an này mới phải chứ?

 

– Ngải Tình.

 

Ra­ji­va đột nhiên ngước
đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi.

 

– Vì sao cô biết một
ngôi chùa như thế sẽ được xây dựng ở đây?

 

Tôi sợ toát mồ hôi. Đúng
rồi, sao tôi lại biết được? Thiên Phật động này được xây dựng sớm nhất ở Trung
Quốc và bây giờ nó còn chưa ra đời kia mà!

 

– Tôi…

 

Tôi cười ha ha kéo dài
thời gi­an, rồi chỉ tay về phía con đường uốn lượn ngoằn ngoèo giữa những khe
núi hẹp và nói:

 

– Tôi nghĩ rằng đây là
nơi mà các lái buôn nhất định phải đi qua. Những nhà buôn đi trên con đường tơ
lụa gặp rất nhiều rủi ro, nguy hiểm, nào là thời tiết khắc nghiệt, địa hình
hiểm trở, đạo tặc hoành hành. Nguy cơ trắng tay, thậm chí mất mạng là rất lớn.
Bởi vậy họ cần Phật pháp như một nơi nương tựa về tinh thần, ban cho họ sự bình
an. Nếu xây chùa ở đây, những thương nhân đó chắc chắn sẽ ghé qua cầu xin thần
Phật phù hộ. Vả lại, nơi này thanh vắng yên tĩnh, rất phù hợp để tu hành.

 

Niềm vui ngời ngời hiện
lên trên khuôn mặt Ra­ji­va, ánh mắt cậu ta mỗi lúc một long lanh rạng rỡ, tôi
thở phào nhẹ nhõm. Quý Tiễn Lâm từng nói rằng, nhà buôn và Phật giáo có mối
quan hệ hết sức mật thiết. Các khoản quyên tặng và lễ vật cúng bái của nhà chùa
chủ yếu dựa vào các thương nhân. Đây chính là lý do vì sao các ngôi chùa và thiền
viện Phật giáo hầu hết được xây dựng dọc theo con đường tơ lụa. Và Phật giáo
cũng nhờ con đường này, từng bước được truyền bá vào Trung Nguyên. Nên lí do mà
tôi đưa ra hoàn toàn hợp lý.

 

Tôi quan sát những vách
núi cao vút bốn xung quanh, lắc đầu ảo não:

 

– Còn vì sao phải khai
mở động đá. Là vì nơi đây là hẻm núi, cây cối không nhiều, nếu muốn xây chùa
bằng gỗ thì phải vận chuyển từ nơi khác đến, sẽ rất tốn kém, hơn nữa, công
trình sử dụng chất liệu gỗ rất khó bảo tồn, vì vậy, xây chùa hang đá trên vách núi
là hợp lý nhất.

 

Ra­ji­va gật đầu tán
đồng:

 

– Chùa hang đá mà cô
miêu tả rất giống với kiến trúc chùa chiền ở Ấn Độ và Kab­ul. Ở những nơi đó,
họ xây chùa trên vách núi vì những con đường huyết mạch đều là đường qua núi.

 

Trầm tư một lát, cậu ta
quay lại, hỏi tôi:

 

– Nhưng sao cô lại gọi
ngôi chùa này là Kizil?

 

Tôi há hốc miệng, cậu ta
vẫn chưa hết nghi vấn à? Tên ranh này sao mà thông minh thế không biết!

 

– Kizil, Kizil…

 

Tôi lẩm bẩm đọc đi đọc
lại cái tên này, vừa đọc vừa suy nghĩ.

 

– Đây là từ địa phương,
ở nơi tôi sinh sống, Kizil có nghĩa là hang đá.

 

May quá, tôi nhanh trí
viện ra cái cớ này để lòe cậu ta vì dù gì cậu ta cũng là người nước ngoài.

 

Cậu ta nhìn tôi rất lâu,
đúng vào lúc tôi bắt đầu lung lay vì lời nới dối của mình, thì đột nhiên cậu ta
tươi cười gật đầu:

 

– Ngải Tình nói rất có
lý!

 

Cậu ta ngừng lại, suy
nghĩ một lát rồi hỏi tiếp:

 

– Vậy theo cô, ngôi chùa
hang đá này nên thiết kế ra sao để thể hiện được sự uy nghi của Phật pháp?

 

– Cái đó…

 

Đâm lao phải theo lao
thôi, nếu tôi không nói, chỉ e ngày sau, Thiên Phật động này sẽ biến dạng. Tôi
ngập ngừng hồi lâu, nhưng sau đó vẫn quyết định trình bày hết suy nghĩ của
mình:

 

– Trước tiên cần khai mở
một động đá trong núi, ở giữa dựng các cột trụ, đặt tượng Phật vào các hốc
tường phía trước cột trụ, đường hành lang bên trái và gi­an buồng phía sau sẽ
vẽ các bức bích họa kể câu chuyện của Phật tổ và các truyền nhân của ngài. Như
vậy, tăng ni Phật tử có thể bái Phật ở gi­an chính, sau đó vòng qua hành lang
bên phải đi về phía buồng sau để ngắm nhìn các tượng Phật ở tư thế nằm trên cõi
Niết Bàn, cuối cùng, quay lại gi­an thờ chính, ngẩng đầu lên chiêm ngưỡng những
bức tranh thuyết pháp của Di Lặc, Bồ Tát ở phía trên cửa ra vào hang đá. Các
bức bích họa sẽ được vẽ trong khung hình thoi, với ý nghĩa là núi Tu Di
(Sumeru), hình vẽ bên trong kể về câu chuyện của Phật tổ và luật nhân quả.

 

Nhìn vẻ mặt chất đầy
nghi vấn của Ra­ji­va, tôi hết sức lo lắng, tôi tiếp tục lục lọi trong trí nhớ
để tìm kiếm những tài liệu về Thiên Phật động Kizil:

 

– À, còn nữa, phải xây
các phòng nhỏ làm nơi tọa thiền cho các tăng sĩ, những phòng đá nhỏ này thì
không cần trang trí bích họa, có thể thiết kế theo kiến trúc phòng ở gắn liền
với lối đi. Phòng đá nhỏ dành cho tăng sĩ và hang đá chứa bích họa có thể đặt
cạnh nhau, tạo nên một quần thể thống nhất, đó chính là một ngôi chùa Phật
giáo.

 

– Ngải Tình, cô từng đến
Ấn Độ và Kab­ul, đúng không?

 

– Hả?

 

Đúng là tôi đã từng đến
Ấn Độ, nhưng tình hình chính trị ở Kab­ul, tức vùng Pe­shawa thuộc Kash­mir
ngày nay hết sức phức tạp, nên tôi chưa có cơ hội đến đó. Kab­ul là thành phố
cổ đại nổi tiếng nằm trên con đường gi­ao nhau giữa vùng Nam và Trung Á, là thủ
đô của vương triều Kushan do đức vua Kan­ish­ka lập nên, là khởi nguồn của nghệ
thuật Phật giáo Gand­hara và là vùng thánh địa mà tôi mơ ước được đến thăm từ
lâu.

 

Nhưng vấn đề nan giải
hiện nay là tôi phải tiếp tục nói dối như thế nào đây? Rõ ràng, mô hình kiến
trúc tôi vừa miêu tả không hề có tại Trung Nguyên và thậm chí ngay ở Tây Vực
cũng chưa từng có. Nhưng nếu tôi nói rằng tôi từng đến đó, chắc chắn tôi sẽ bị
lật tẩy. Cha cậu ta là người Ấn Độ, bản thân cậu ta đã từng sống ở Kab­ul mấy
năm trời.

 

– Tôi… Là vì… Tôi
tình cờ gặp một nhà sư người Ấn Độ, ông ấy đã nói với tôi…

 

– Ngải Tình hiểu tiếng
Phạn từ khi nào vậy

 

Cậu ta ngắt lời tôi, ánh
mắt sắc như dao đang nhìn xoáy vào tôi khiến tôi không biết lẩn trốn vào đâu.

 

– Tôi…

 

Người ta nói quả không
sai: nói dối một lần thì dễ nhưng để duy trì lời nói dối ấy, bạn phải nghĩ ra
thêm nhiều lời nói dối khác và đến sau cùng bạn vẫn cứ bị lật tẩy.

 

– Ngải Tình, cô chẳng
biết nói dối gì cả!

 

– Tôi…

 

Thế là tôi đã bị lộ. Sao
khi nãy tôi liều lĩnh như vậy, thốt ra những lời bịa đặt không chút suy nghĩ.

 

– Rốt cuộc cô là ai?

 

Lại một câu hỏi gai góc
nữa, đầu óc tôi chao đảo.

 

– Tôi…

 

Tôi đã quên mất rằng tên
ranh này từng đánh bại nhà biện kinh vô địch Tây Vực. Nếu cậu ta tiếp tục chất
vấn, bí mật của tôi chắc chắn không thể giữ được nữa!

 

– Thôi được rồi, cô đừng
lo lắng.

 

Nhìn gương mặt đỏ bừng
của tôi, cậu ta bỗng bật cười:

 

– Nếu cô không muốn nói,
tôi không ép buộc. Tôi sẽ thuyết phục đức vua xây dựng chùa hang đá này khi về
đến Khâu Từ, sẽ đặt tên là Thiên Phật động Kizil. Và tất nhiên sẽ xây dựng theo
thiết kế cô vừa nói.

 

Cậu ta nhìn tôi, đôi mắt
tinh anh tỏa sáng, lắc đầu và cười:

 

– Ngải Tình, cô có biết
điệu bộ ngơ ngác của cô khi nãy rất dễ thương không? Bất kể cô từ đâu đến, cô
là cô gái thông minh xinh đẹp nhất mà Ra­ji­va từng gặp.

 

Hai má tôi đã bớt nóng,
nhưng miệng tôi vẫn chưa khép lại. Thật không thể tin được, Thiên Phật động
Kizil đã được xây dựng như thế đấy! Tôi đập khẽ vào miệng mình tự trừng phạt và
dặn lòng từ nay sẽ cấm nói năng lung tung. Tôi làm sao mà gánh nổi tội danh làm
rối loạn lịch sử kia chứ!

 

Quay đầu lại và phát
hiện hành động tự phạt vừa rồi đã lọt vào mắt Ra­ji­va, đen đủi thế không biết!
Cậu ta không nói gì, nhưng ánh mắt nhìn tôi như đang nghiên cứu lại như đang dò
la. Kể từ lúc ấy, tôi luôn nhắc nhở mình không được nhiều lời.

 

Cuối cùng, chúng tôi đã
đến được Khâu Từ. Đội ngũ nghênh tiếp lần này còn long trọng hơn cả khi ở Wen­su,
từ xa đã văng vẳng tiếng nhạc mừng réo rắt. Những lán trại chạy dài hàng mấy
trăm mét trước cổng thành. Phía trước mỗi lán trại đều có các tăng sĩ với trang
phục của các cao tăng hướng về phía chúng tôi hành lễ. Ra­ji­va và Ji­va lập
tức xuống ngựa, cung kính chắp tay tạ lễ với các cao tăng đó. Tôi chỉ để tâm
đến những pho tượng Phật dựng bên trong các lán trại, giá như có thể bảo tồn
đến thời hiện đại thì tốt biết bao!

 

Dẫn đầu đoàn nghênh tiếp
là một phụ nữ trung tuổi, thân hình béo tốt, khoác trên mình bộ trang phục
quyền quý với váy dài thêu kim tuyến tay lỡ, chắc chắn là hoàng hậu! Đám phụ nữ
và trẻ nhỏ ăn mặc cầu kỳ quý phái phía sau hẳn là các phi tần, hoàng tử và công
chúa. Tiếp đó là đến các quan văn quan võ, hàng trăm con người cung kính hành
lễ với đức vua Bạch Thuần, không khí hết sức trang nghiêm. Chỉ trong phút chốc
tôi đã được diện kiến toàn bộ giới quý tộc và hoàng thất Khâu Từ, tôi ước sao
có cái máy ảnh ở đây để ghi lại khung cảnh cảm động này.

 

Hoàng hậu ôm chầm lấy Ji­va
và Ra­ji­va, xúc động bật khóc nức nở. Mẹ con Ji­va mắt đỏ hoe, họ đang cùng
nhau ôn lại bốn năm xa cách. Tôi để ý đến một người trong đám quý tộc phía sau
hoàng hậu, người ấy có ngoại hình khác hẳn những người Khâu Từ khác.

 

Đó là một người đàn ông
trung niên, với nước da bánh mật, dáng người rất cao, thân hình mảnh khảnh,
lưng dài thẳng tắp, vầng trán hẹp và dài, đôi mắt to sâu trũng in giữa khuôn
mặt khắc khổ, đồng tử màu nâu nhạt, thần thái toát lên vẻ thông thái và nhân
hậu. Ông không thả tóc ngang vai như người Khâu Từ, mái tóc ông cắt ngắn giống
kiểu tóc của con người ở hiện đại nhưng đã lốm đốm sợi bạc. Dù ông đang mặc
trên mình trang phục của người Khâu Từ, tôi vẫn dễ dàng nhận ra ông là người Ấn
Độ. Ở tuổi này, nếu dùng từ “đẹp trai” để miêu tả về ông thì thiệt thòi cho ông
quá! Điều đáng nói ở đây là khí chất thoát tục ở ông, đó là thứ khí chất thanh
cao khiến ông trở nên khác biệt giữa hàng trăm con người, khiến người khác phải
chú ý và khi đã chú ý đến ông rồi thì khó mà dứt được ánh nhìn để chuyển hướng
đi chỗ khác.

 

Ông dắt theo một cậu bé
chừng mười tuổi, khuôn mặt tròn xoe, làn da trắng ngần giống người Khâu Từ và
những đường nét trên khuôn mặt thì giống hệt Ra­ji­va, nhưng dễ thương hơn
nhiều! Đôi mắt màu xám nhạt ấy đang bận ngó nghiêng khắp nơi, khi thấy tôi, cậu
bé có vẻ hơi ngạc nhiên, cứ chăm chú nhìn tôi mãi. Tôi cười với cậu bé, lén lút
làm mặt ngáo ộp trêu chọc. Cậu bé giật mình, vội vã quay mặt đi.

 

Không nghi ngờ gì nữa,
người đàn ông Ấn Độ ấy chính là Ku­marayana, người đã từng từ bỏ ngôi vị để
xuất gia, người từng vượt qua dãy núi Pamirs ở phía đông để đến đất Khâu Từ và
được đức vua nước này phong làm quốc sư, là cha của Ku­mara­ji­va và là người
mà năm xưa Ji­va tìm mọi cách để được lấy làm chồng. Cậu bé có khuôn mặt giống
Ku­mara­ji­va như đúc kia chính là em trai của cậu, tôi không nhớ tên cậu bé là
gì. Trong “Truyện cao tăng”, Tuệ Giảo chỉ ghi lại một cái tên, tức là trong sự
phát triển của lịch sử, cậu bé đó chỉ tồn tại vì là em trai của Ku­mara­ji­va.

 

Hoàng hậu đã ngừng khóc,
đưa hai mẹ con Ra­ji­va đến bên Ku­marayana, Ji­va chắp tay hành lễ trước người
từng là chồng của bà, nỗi nhớ nhung bịn rịn ngập đầy trong đôi mắt thẳm sâu của
Ku­marayana. Chắc hẳn ông rất muốn ôm bà vào lòng, nhưng ông chỉ lặng nhìn bà
vài giây, rồi cũng chắp tay tạ lễ. Chú bé tinh nghịch không cần biết trời cao
đất dày gì, cứ thế lao vào ôm chầm lấy mẹ kêu khóc thảm thiết, Ji­va cũng ôm
chặt lấy đứa bé, nước mắt chan chứa. Ra­ji­va quỳ lạy cha, nhưng Ku­marayana
vội vàng đỡ cậu lên. Cha con họ đều rất xúc động, họ trò chuyện với nhau bằng
tiếng Phạn.

 

Nghi lễ đón tiếp đã diễn
ra hơn một tiếng đồng hồ. Ku­marayana xin phép đức vua được đưa vợ con về phủ,
Ji­va không phản đối, có lẽ vì bà cũng rất nhớ con. Thế là tôi cùng gia đình họ
trở về phủ quốc sư.

 

Tôi đã tìm hiểu và được
biết em trai Ra­ji­va tên là Pusyse­da, đó là tên tiếng Phạn, vậy là lại có
thêm một cái tên khó đọc nữa.

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+