Trang chủ » Thế giới truyện » Ngôn tình Trung Quốc

Đức Phật và Nàng p1 – Chương 15 – 16 

Đăng ngày 12/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương 15: Tôi lại
“vượt”

 

Đưa tay quờ quạng, thấy
mềm mềm, mịn mịn. Mở mắt, vầng quang rực rỡ chiếu thẳng tới, vội nhắm chặt lại.
Vậy là lần tiếp đất này cũng rơi xuống sa mạc giống hệt lần trước. Tôi quả là
có duyên với sa mạc, có điều không biết hiện là thời đại nào và nơi này có phải
là nơi đó không. Tôi đứng lên, kiểm tra toàn bộ vật dụng mang theo bên mình,
rồi nhìn chiếc đồng hồ vượt thời gi­an đã được cải tiến. Tốt rồi, đèn tín hiệu
màu xanh, có nghĩa là mọi thứ vẫn bình thường, công sức sáu tháng trời của nhóm
các nhà khoa học ấy đã không uổng phí. Rút kinh nghiệm từ bài học lần trước,
các nhà khoa học quyết định không sử dụng năng lượng mặt trời để khởi động
thiết bị nữa, vì không ổn định mà thay vào đó là loại pin Lithi­um siêu bền.
Nghe nói, đây là sản phẩm đời mới nhất của hàng BYD, tốt hơn nhiều so với pin
của Sony.

 

Chuyến đi của tôi đã tạo
nên tiếng vang lớn, sánh ngang với chuyến bay vào vũ trụ rất thành công của
Dương Vỹ. Tôi mất tích hơn năm tháng, nhóm nghiên cứu không xác định được tôi
đã vượt thời gi­an thành công hay đã chết. Suốt một thời gi­an dài, sếp tôi rất
phiền não vì không biết phải giải thích như thế nào với bố mẹ tôi. Cho đến một
buổi chiều nọ, tôi từ trên trời rơi xuống, lơ lửng trên cành liễu bên ngoài
phòng thí nghiệm, làm gẫy gần hết những chạc cây xanh tốt đó.

 

Trong năm tháng sau khi
trở về thế kỷ XXI, tôi bận rộn chóng mặt. Kiểm tra sức khỏe, viết báo cáo và
còn phải đến Tân Cương cùng sếp một tháng trời nữa chứ. Thành cổ Khâu Từ xưa
kia (hay còn gọi là di tích Diên Thành) nằm giữa thành phố Kucha mới và cũ ngày
nay, được người địa phương gọi bằng cái tên thành cổ Pi­lang. Tôi đi theo đoàn
các nhà khảo cổ quan sát, đo đạc, nghiên cứu di tích tường thành Khâu Từ, di
tích hoàng cung, ngôi chùa “kỳ lạ”, quảng trường lớn, sau đó cùng các nhà ngôn
ngữ giải mã văn tự Tochari tại viện bảo tàng. Khi một mình lang thang giữa những
di tích này, nhìn những ngôi nhà, những thửa ruộng đã phủ kín khuôn viên di
tích, có thể nhận ra địa tầng của hơn một nghìn năm về trước, nhưng còn những
thứ khác thì đã bóng chim tăm cá, trong tôi trào dâng một cảm xúc khó tả. Vì
với riêng tôi, mọi thứ sống động của vài tháng trước đó chỉ trong chớp mắt đã
vật đổi sao dời, trở thành quá vãng dâu bể 1650 năm. Những con người sống động
của vài tháng trước, trong khoảnh khắc đã chỉ còn lại là mấy dòng chữ trên giấy
cũ. Đứng trên gò đất mấp mô, nơi xưa kia từng là thành quách nguy nga, bên tai
tôi như vẫn vang vọng giọng nói trầm ấm đó.

 

– Ngải Tình, ngày mai
tôi sẽ đưa cô đi tham quan thành Khâu Từ.

 

– Ông trời ưu ái người
Khâu Từ, nên năm nay mới “được mùa tuyết” như vậy.

 

– Đừng sợ, cứ nhắm mắt
lại, một lát nữa là không sao.

 

Mỗi lúc như vậy, tôi lại
giật mình quay đầu nhìn bốn phía, mãi đến khi nhận ra bóng chiếc áo nâu sòng ấy
chỉ là ảo giác, tôi mới bình tâm trở lại. Ra­ji­va, có phải chúng ta đang ở
trong cùng một không gi­an, nhưng chúng ta cách nhau những 1650 năm thời gi­an?
Cậu vẫn ổn chứ? Tôi cười buồn, sao lại hỏi ngớ ngẩn như vậy, vận mệnh của cậu
ta, lẽ nào tôi không rõ?

 

Khi đi khảo sát Thiên
Phật động Kizil, tôi đã ngẩn ngơ hồi lâu trước pho tượng đồng tạc hình Ra­ji­va
đặt phía trước hang đá. Pho tượng khắc họa dung mạo của Ra­ji­va ở độ tuổi từ
ba mươi đến bốn mươi. Một chân gập lại, tay phải đặt lên đầu gối, trên mình
khoác chiếc áo lộ một bên vai của tăng sĩ, thân hình mảnh khảnh, vầng trán rộng
giữa hai hàng lông mày vươn dài, dung mạo ấy toát lên một trí tuệ trác việt,
một trái tim rộng lớn và một khí khái bất phàm. Tuy không thể sống động bằng
con người thực, nhưng tôi nghĩ, nghệ nhân tạc tượng đã nắm bắt được thần thái
của Ra­ji­va. Tôi chưa được nhìn thấy dung mạo Ra­ji­va khi đã trưởng thành,
nhưng pho tượng điêu khắc này đã khiến tôi không nguôi suy tưởng và tưởng tượng
về cậu ấy. Tôi đã chụp một bức ảnh đứng dưới chân pho tượng để làm kỷ niệm,
buổi đêm khi ngồi viết luận văn, mỗi lúc mệt mỏi tôi lại mở tấm hình ra ngắm
nghía. Ước gì tôi được gặp lại Ra­ji­va, Ra­ji­va khi đã trưởng thành.

 

Trong viện bảo tàng Khâu
Từ ở Kucha có trưng bày bộ hài cốt của một phụ nữ, được khai quật lên từ di chỉ
Sub­ash, thời điểm hài cốt này được chôn cất cách nay khoảng một nghìn ba trăm
năm. Phần đầu của hài cốt có dấu hiệu bị nén bẹp xuống, giống hệt hình ảnh của
Ji­va và những thành viên hoàng tộc Khâu Từ khác mà tôi từng gặp. Nén đầu không
có nghĩa là xấu xí, chỉ có điều không hợp với thẩm mỹ của chúng ta ngày nay mà
thôi. Với tôi, Ji­va luôn là một phụ nữ xinh đẹp. Tu­tankhamun (gọi tắt là vua
Tut), vị hoàng đế thứ mười hai của triều đại thứ mười tám của Ai Cập cũng từng
nén dẹt đầu, bức tượng bán thân của vua Tut sau khi được phục chế nguyên bản và
tranh chân dung trong lăng mộ của ngài đã cho thấy Tu­tankhamun là một pharaon
mười tám tuổi cực kỳ khôi ngô, tuấn tú.

 

Kế hoạch ban đầu là sau
khi kết thúc công việc khảo sát ở Kucha, tôi sẽ có buổi gặp gỡ các chuyên gia
Phật học, những người chuyên nghiên cứu về Ku­mara­ji­va. Tuy tôi chỉ được tiếp
xúc với Ra­ji­va một thời gi­an rất ngắn, nhưng cũng có thể cung cấp cho họ
những thông tin và tư liệu quý giá mà không ai có được. Vì vậy các chuyên gia
rất mong ngóng được trò chuyện với tôi. Nhưng, sếp tôi đột ngột nhận được điện
thoại từ tổ nghiên cứu, thế là hai thầy trò lại vội vã khăn gói về phòng thí
nghiệm, để chuẩn bị cho lần vượt thời gi­an thứ hai, mà không, chính xác phải
là lần vượt thứ tư mới đúng.

 

Lần này, máy móc đã được
cải tiến rất nhiều. Tôi không còn cảm giác khó chịu khi bay vào không gi­an như
những lần trước nữa. Tuy vậy, vẫn không thể xác định được địa điểm và thời đại
mà tôi sẽ đến, chỉ có thể ước tính đó là khoảng thời gi­an hai nghìn năm trước.
Sai số là năm trăm năm, tức là nơi tôi đến có thể ở vào khoảng niên đại từ cuối
thời Chiến quốc cho đến cuối thời Nam Bắc triều. Với kinh nghiệm của lần “vượt”
trước, tôi vẫn quyết định mặc một bộ Hán phục to rộng, lả lướt. Trang phục này
rất đại chúng và là trang phục được thịnh hành lâu nhất trong lịch sử.

 

Tôi quan sát và đánh giá
tình hình trước mắt. Những điểm tương đồng về địa hình giữa hai lần “vượt” cho
tôi một linh cảm mạnh mẽ rằng, tôi đã trở lại nơi ấy! Do vậy, tôi trở nên bình
tĩnh hơn, tôi bắt đầu nghĩ cách để ra khỏi sa mạc và tìm đến nơi có bóng người.
Phóng tầm mắt ra xung quanh, nhận thấy mình đã rơi xuống vùng ven sa mạc, cạnh
đó là rừng dương và những khóm liễu đỏ thấp lè tè. Rừng dương xa xa nom có vẻ
um tùm, xanh tốt, tôi quyết định đi về hướng đó.

 

Bây giờ đã là cuối tháng
năm, buổi trưa trên sa mạc oi bức khủng khiếp, vì vậy thứ mà tôi cần nhất lúc
này là nước. Rừng dương rậm rạp là thế, nguồn nước chắc chắn ở không xa. Khi
một hồ nước to bất ngờ xuất hiện trước mặt, tôi mừng rỡ khôn tả, lao như bay về
phía ấy.

 

Thật không ngờ, giữa
vùng sa mạc mênh mông thế này lại có một hồ nước lớn đến vậy. Và điều quan
trọng hơn cả là ven hồ có người, không phải một người mà là một đám đông. Không
có niềm vui nào bằng niềm vui nhìn thấy đồng loại giữa chốn hoang vu này, tôi
ba chân bốn cẳng lao về phía họ. Nhưng chưa đến nơi, tôi đã phải đột ngột hãm
tốc độ. Phản ứng đầu tiên của tôi sau đó là quay đầu, chạy thục mạng về hướng
ngược lại. Nhưng chưa được mấy bước, một mũi tên vút tới, cắm “phập” xuống cạnh
bàn chân tôi, tôi sợ hãi dừng lại, giơ hai tay lên cao:

 

– Đừng bắn! Tôi xin
hàng!

 

Tôi bị giải đến chỗ đám
đông kia, có khoảng hai mươi người. Nhìn cách ăn mặc và tướng tá của đám người
đó, toàn những tên mặt mày dữ tợn, hình hài quái dị, đúng là một đám kẻ cướp.
Còn khoảng chục người nữa thì đang quỳ dưới đất, tay chân bị trói chặt, run rẩy
lo sợ, len lén nhìn tôi bằng ánh mắt cảm thông, có lẽ họ là người Ba Tư. Cạnh
đó có khoảng hơn chục con lạc đà cõng trên lưng rất nhiều hàng hóa, vẫn thản
nhiên, mải mê gặm cỏ. Tôi đoán ra ngay đó là một đội lái buôn giữa đường gặp
cướp.

 

Phải nói rõ điều này,
nơi tôi tiếp đất cách con đường tơ lụa không xa, mà trên con đường này thường
xuyên xảy ra nạn giặc cướp. Tôi chưa bao giờ phải gi­ao tranh với ai, lẽ nào
lần này buộc phải sử dụng vũ khí? Có một khẩu súng gây mê loại nhỏ trong áo
chống phóng xạ của tôi, sếp dặn rằng, nếu không đến mức nguy cấp thì không được
phép sử dụng, vì đó là sản phẩm của thời hiện đại, có thể làm thay đổi lịch sử.
Sếp lúc nào cũng căn dặn không được làm gì khiến lịch sử thay đổi, nhưng thầy
có nghĩ rằng, bản thân việc tôi vượt thời gi­an trở về đây cũng là một hành
động làm thay đổi lịch sử?

 

Bọn cướp đang bàn bạc
với nhau bằng tiếng Tochari mà tôi có thể nghe hiểu, với giọng địa phương lơ
lớ, không phải khẩu âm Khâu Từ.

 

Tôi vắt óc nghĩ cách
thoát thân. Tôi không giàu bản lĩnh như Huyền Trang, có thể dùng lời lẽ khuyên
giải đám giặc cướp ngài gặp trên đường đi Tây Trúc thỉnh kinh buông gươm đao
quy y cửa Phật. Vì vậy, sau khi quan sát hết lượt và đánh giá tình hình giữa ta
và địch, tôi quyết định: bắt giặc phải bắt tên cầm đầu trước.

 

Tôi khẽ đưa tay vào
trong áo và chạm vào khẩu súng, cũng may chúng cho rằng tôi chỉ là cô gái yếu
đuối nên không trói chân tay tôi lại như những người Ba Tư kia. Tôi nở nụ cười
ngọt ngào với tên râu quai nón đang ngồi ung dung nhai thịt trên tấm thảm, hơi
nhích về phía hắn một chút, cất giọng Tochari lơi lả:

 

– Đại Vương…

 

Cắn răng thật chặt để
xua đuổi nỗi sợ hãi đang khiến toàn thân nổi da gà.

 

Hắn cười híp cả mắt,
chìa bàn tay nhầy nhụa về phía tôi. Tôi tiến lên phía trước một bước, làm điệu
bộ chuẩn bị ngả vào lòng hắn, rồi đột ngột rút súng chĩa vào hắn và bắn. Súng
gây mê này thật lợi hại, tên cầm đầu chưa kịp có phản ứng gì đã ngã lăn xuống
đất. Nhân lúc đàn em của hắn còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, tôi
lập tức hạ thêm năm tên đứng gần nhất và lấy giọng uy hiếp những tên còn lại:

 

– Bỏ vũ khí xuống, ta sẽ
tha mạng cho các người!

 

Hình như vẫn chưa dọa
được chúng, tôi tiếp tục quát:

 

– Đây là loại độc dược
“kiến huyết phong hầu”, thấy máu chảy tức là người đã chết, các ngươi không sợ
thì đến đây mà thử!

 

Có lẽ vũ khí lợi hại của
thế kỷ XXI đã khiến bọn cướp kinh sợ, hơn chục tên còn lại hoang mang nhìn
những tên đang nằm bất động trên mặt đất. Thực ra tôi chỉ dọa chúng thế thôi,
khẩu súng gây mê của tôi rất nhỏ, chỉ có thể bắn vào đối phương ở khoảng cách
dưới năm mét. Thế nên, khi thấy bọn cướp buông hết các thứ đao, cung, kiếm… tôi
khẽ thở phào, mồ hôi đầm đìa lưng áo. Tôi vội vàng chạy đến cởi trói cho đám
thương nhân kia, nhưng dây quấn quá chặt, tôi đành phải lôi con dao Thụy Sĩ ra
cắt.

 

Những việc xử lý tiếp
theo không cần tôi phải bận tâm nữa. Mấy tên cướp còn lại khiếp sợ thứ vũ khí
mà tôi cầm trong tay, bây giờ lại thêm một đám người Ba Tư đông đảo cầm gươm
đuổi phía sau, nên bọn chúng đã chạy mất dạng từ lâu. Mấy người Ba Tư kia kính
cẩn hành lễ tạ ơn tôi. Trong số họ có một người biết tiếng Hán và một người
biết tiếng Tochari. Tuy nói năng không lưu loát, nhưng hai ngôn ngữ bổ sung cho
nhau, cộng thêm ngôn ngữ thân thể, chúng tôi cũng có thể hiểu nhau tám, chín
phần. Tôi lôi từ trong ba lô ra tập bản đồ, nhờ họ xác định vị trí. Tập bản đồ
này rất đặc biệt, được phác họa dựa trên tình hình khu vực trước và sau đời nhà
Hán khoảng năm trăm năm. Lật giở đến trang về Tây vực, vì chú thích bằng tiếng
Hán, nên phải mất một lúc lâu họ mới chỉ ra cho tôi vị trí tương đối nơi chúng
tôi đang đứng, có vẻ như gần Lun­tai (Bur­gur). Tôi xem xét thật kỹ bản đồ một
lần nữa, thì ra tôi đã rơi xuống ven sa mạc Tak­la­makan. Ở nơi khô hạn cực độ
như thế này mà vẫn có đồng cỏ rộng lớn, vậy chắc chắn là đồng cỏ và hồ nước ở
Lun­tai rồi! Đây chính là nơi cư trú của tộc người Rob (La Bố) cổ đại, họ sinh
sống bằng nghề đánh bắt cá trong hồ nước này. Nhưng tôi không thấy quanh đây có
nhà cửa gì cả, có lẽ họ định cư ở phía khác của hồ nước. Nhưng cũng không thể
xác định đám cướp kia có phải người Rob hay không. Lun­tai cách Khâu Từ khoảng
tám mươi kilômét. Nếu với tốc độ như hiện nay của đoàn lạc đà (bình quân mỗi
ngày đi được hai mươi đến ba mươi kilômét), thì nhiều nhất là bốn ngày sau tôi
có thể đến được Khâu Từ.

 

Khâu Từ, mỗi lần nghĩ
đến nơi ấy là tim tôi lại đập rất gấp và bóng dáng thanh mảnh, khổ hạnh ấy lại
hiện ra trước mắt. Không biết bây giờ cậu ta bao nhiêu tuổi rồi. Tôi hỏi mấy
người Ba Tư hiện đang là năm nào, họ cung cấp cho tôi một số thông tin như sau:

 

1. Ở Trung Nguyên hiện
vẫn là thời nhà Tần của Phù Kiên (nhưng họ không rõ niên hiệu).

 

2. Vua Khâu Từ vẫn là
Bạch Thuần (họ chỉ biết Bạch Thuần khoảng hơn bốn mươi tuổi).

 

3. Chỉ nghe nói Ku­mara­ji­va
là một vị hòa thượng nổi tiếng (vì người Ba Tư theo tín ngưỡng Hỏa giáo, vốn là
một tôn giáo thờ thần lửa thời xưa, nên mặc dù Ku­mara­ji­va là một cao tăng
Phật giáo tiếng tăm vang dội, họ cũng không hay biết), tuổi tầm hai mươi đến ba
mươi tuổi.

 

4. Họ vừa đi qua Khâu
Từ, bây giờ đang trên đường đến Trường An. Nhưng vì tôi có ơn cứu mạng với họ,
nên họ bằng lòng đưa tôi quay về Khâu Từ rồi mới lên đường đi tiếp.

 

Không phải tôi không
muốn đi Trường An, nếu sếp có mặt ở đây, chắc chắn sẽ yêu cầu tôi phải cùng họ
đi Trường An ngay, như thế sẽ được một công đôi việc, tiện thể khảo sát con
đường tơ lụa, con đường huyền thoại từ thời Nam Bắc triều. Nhưng một giọng nói
cứ vang vọng trong tôi, thôi thúc tôi đi đi, đến đó gặp cậu ấy đi! Sau khi
trưởng thành, Ku­mara­ji­va sẽ có diện mạo như thế nào nhỉ? Nếu có thể tận mắt
nhìn thấy cậu ấy, những nghiên cứu của tôi sẽ có ý nghĩa hơn rất nhiều. Vả lại,
tôi đã hứa với Pusyse­da nhất định sẽ quay lại, tôi phải giữ lời chứ, đúng
không?

 

Chúng tôi dự trữ nước và
lập tức lên đường, vì lo những tên cướp kia sẽ quay lại. Mấy tên bị hôn mê, chỉ
sau hai mươi tư giờ sẽ hồi phục, rất có thể bọn chúng sẽ tìm cách trả thù, nghĩ
vậy, mọi người đều sợ hãi, ai cũng muốn mau chóng đi khỏi khu vực ấy càng xa
càng tốt. Tôi điều chỉnh lại thời gi­an trên đồng hồ cho chậm lại hai giờ, xác
lập múi giờ Tân Cương.

 

Khi chúng tôi đến được
điểm dựng trại thì bầu trời đã lấp lánh ngàn sao. Nơi này là một thành quách
hoang tàn, từ lâu đã không có người ở. Theo phát âm của người Ba tư thì nó có
tên là Tahan­qi. Thành quách này có lẽ đã rất nhiều tuổi rồi, tường thành trải
qua nhiều năm tháng không được tu sửa, phần lớn đều đã sập sệ, dưới ánh trăng
vằng vặc, khung cảnh hoang tàn càng làm tăng cảm giác bãi bể nương dâu. Xung
quanh là những thửa ruộng, vậy là chúng tôi đã ra khỏi sa mạc Tak­la­makan.

 

Chúng tôi dựng trại cạnh
tường thành, những người Ba Tư hào phóng dựng riêng một lán trại cho tôi. Người
đàn ông biết tiếng Hán cố diễn đạt cho tôi hiểu rằng nơi này có liên quan đến
triều đại nhà Hán. Nhưng vì tiếng Hán của người đó không được trôi chảy, phải
bổ sung bằng rất nhiều dấu hiệu tay chân, tôi mới hiểu sơ sơ. Ông ta cho tôi
biết, thành trì này do một người Hán xây dựng lên, đó là một vị dũng tướng, với
tài thao lược xuất quỷ nhập thần. Người Hán ư? Dũng tướng ư?

 

Liệu có phải là thành
Taqian do tướng quân Ban Siêu dựng lên không? Tahan­qi và Taqian có âm đọc rất
giống nhau. Có lẽ do người Ba Tư phát âm không chuẩn.

 

Tim tôi đập mạnh. Thành
Taqian thuộc Khâu Từ, vốn là nơi Ban Siêu đóng quân khi nhậm chức đô đốc Tây
vực, ở thời hiện đại, vị trí chính xác của nơi này vẫn còn là một bí ẩn.

 

Nếu nói như vậy, bí ẩn
này, giờ đây đã được giải đáp rồi ư?

 

Năm 73 sau Công nguyên,
Ban Siêu theo đô úy Đậu Cố tấn công giặc Hung Nô phía bắc, công việc của ông
chỉ là văn thư. Ông dẫn theo đoàn sứ giả gồm ba mươi sáu người đến Shan­shan,
từ đây cuộc đời chinh chiến của ông tại Tây vực đã mở trang sử đầu tiên.

 

Năm 81 sau Công nguyên,
ông thống lĩnh một đạo quân khoảng hai mươi lăm nghìn người tập hợp từ các nước
chư hầu phía nam Tây vực tấn công Yark­land (nay là huyện Yark­land thuộc Tân
Cương). Vua Khâu Từ điều quân cứu viện Yark­land, trúng kế của Ban Siêu, thất
bại thảm hại và phải bỏ chạy. Yark­land quy thuộc nhà Hán, con đường tơ lụa
được khai thông về phía nam.

 

Năm 90 sau Công nguyên,
nước Yuezhi (nay là các vùng đất thuộc Ấn Độ, Pak­istan, Afghanistan) cử một
đội quân gồm bảy mươi nghìn người tấn công Su­laq (nay là Kash­gar thuộc Tân
Cương). Ban Siêu nhận thấy đội quân vượt ngàn dặm xa xôi ấy đã sức cùng lực
kiệt, nên cố thủ không đánh. Đến khi lương thực cạn kiệt, quân Yuezhi phải chạy
đến Khâu Từ xin cứu viện, trước đó Ban Siêu đã cho quân mai phục, nên đã tiêu
diệt toàn bộ đạo quân kia. Yuezhi đầu hàng, Ban Siêu cho phép tàn quân trở về
quê hương, Yuezhi nối lại mối quan hệ hòa hảo với nhà Hán.

 

Năm 91 sau Công nguyên,
Khâu Từ quy thuận nhà Hán, Ban Siêu được cử làm tướng quân cai quản Tây vực,
lập đô hộ phủ tại Khâu Từ, phế bỏ ngôi vua của Vưu Lợi Đa do Hung Nô lập nên,
nên đưa thân tín của nhà Hán (chỉ các vương tử do các nước chư hầu Tây vực cử
đến triều đình nhà Hán làm con tin), Bạch Bá lên làm vua Khâu Từ. Lịch sử cai
trị Khâu Từ hơn tám trăm năm của dòng họ Bạch bắt đầu từ đó, cho đến khi bị
người Ughur chiếm đóng.

 

Năm 94 sau Công nguyên,
Ban Siêu dẫn theo bảy mươi vạn quân tập hợp từ tám nước trong đó có Khâu Từ và
Shan­shan, chinh phạt tiểu quốc Yan­qi ngỗ ngược, bắt trói quốc vương nước này,
chém đầu thị uy trước thành trì của vị tướng cai quản Tây vực tiền nhiệm bị
giết hại là Trần Mục. Sau đó lập thân tín của nhà Hán là Nguyên Mạnh lên làm
vua Yan­qi. Từ đó hơn năm mươi quốc gia Tây vực đều quy thuận nhà Hán. Sau khi
dẹp tan thế lực của Hung Nô, Ban Siêu dời đô hộ phủ đến thành Taqian. Từ đó,
con đường tơ lụa được khai thông về phía bắc.

 

Năm 122 sau Công nguyên,
vua Khâu Từ khi ấy là Bạch Anh còn đang băn khoăn không biết nên quy thuận hay
đối kháng với nhà Hán, con trai Ban Siêu là Ban Dũng dùng lí lẽ thuyết phục,
Bạch Anh đã cùng với hai nước khác là Gu­mo và Wen­su xin hàng Ban Dũng. Từ đó
cho đến cuối đời Đông Hán, vương triều Khâu Từ luôn nằm dưới sự kiểm soát của
nhà Hán.

 

Tôi nhìn ngắm những mảng
tường hoang phế dưới bóng trăng, dấu tích của tháng năm đang kể lại câu chuyện
hào hùng về cuộc đời lẫm liệt và những chiến công rung trời chuyển đất của hai
cha con vị tướng quân anh hùng hai trăm năm mươi năm về trước. Thành quách nguy
nga năm nào giờ đây chỉ còn là đống đổ nát, không người qua lại. Đến thế kỷ
XXI, ngay cả đống đổ nát hoang tàn này cũng không lưu lại bất cứ dấu vết nào
cả. Trong đêm vắng, lắng nghe tiếng rì rầm tụng kinh của những người Ba Tư theo
đạo Hỏa giáo, quan sát họ quỳ lạy trang nghiêm bên đống lửa bập bùng, sự thần
bí của tín ngưỡng lan trong không gi­an mênh mông, càng làm tăng thêm vẻ cô
tịch, lạnh lẽo của chốn này.

 

Tôi đang ở vào thời kỳ
Ngũ hồ thập lục quốc, Trung Nguyên đại loạn, các nước chư hầu đua nhau tranh
bá, không ai màng tới Tây vực. Bởi vậy, đã từ lâu Khâu Từ không còn nghe hiệu
lệnh của vương triều Trung Nguyên, Bạch Thuần câu kết với người Hồ ở Trung Á,
mưu đồ xưng bá Tây vực, gây bất bình trong các nước ở khu vực này. Phù Kiên đặt
nhiệm vụ thống nhất lên hàng đầu, lại nhận được sự ủng hộ của vua Shan­shan và
vua Chirsh, lệnh cho Lữ Quang chinh phạt Khâu Từ. Bạch Thuần dựa vào quân Hồ,
quân số tổng cộng bảy mươi vạn, vậy mà vẫn không thắng nổi mười vạn quân của Lữ
Quang. Bạch Thuần tháo chạy, em trai Bạch Chấn lên thay, Khâu Từ trở thành vùng
đất trong bản đồ của nhà Tiền Tần. Và số mệnh của Ra­ji­va, cũng rẽ sang một
hướng mới kể từ đó…

 

 

 

Chương 16: Gặp lại người
xưa

 

Buổi sáng hôm sau, chúng
tôi tiếp tục lên đường. Ông trời chứng giám, tôi muốn được ở lại khảo sát thành
cổ Taqian đã biến mất hoàn toàn vào thế kỷ XXI này đến nhường nào. Nhưng sau
khi suy tính kỹ lưỡng, tôi vẫn quyết định cùng những người Ba Tư kia lên đường.
Có hai lí do, một là đoàn thương nhân ấy đã vì tôi mà phải quay lại Khâu Từ,
tôi không thể kéo dài thời gi­an của họ thêm nữa. Hai là, vì an toàn của bản
thân, tôi không thể không đi tiếp, ai mà biết có hay không một toán cướp thứ
hai. Thôi, hãy cứ đến Khâu Từ trước đã, rồi quay lại sau vậy, dù sao khoảng
cách từ Khâu Từ đến nơi này cũng không quá xa. Bởi vậy, sớm tinh mơ tôi đã trở
dậy và đi một vòng quanh thành cổ, thực hiện công việc đo đạc cơ bản nhất, sau
đó đánh dấu vị trí lên bản đồ, để tiện cho việc tìm kiếm sau này.

 

Lúc lên đường, tôi vẫn
lưu luyến dõi theo bóng thành cổ Taqian ngày một xa dần cho đến khi chỉ còn là
một chấm nhỏ và mất hút trong không gi­an. Nhưng bù lại, trên đường đi, tôi
được chiêm ngưỡng rất nhiều địa danh khiến tôi phải kinh ngạc. Tôi phát hiện ra
một di tích quan ải đời nhà Hán, nơi đây vẫn còn lưu lại những vết tích của
khói lửa chiến tranh. Tranh thủ giờ nghỉ trưa, tôi xăm xắn chạy đến đo đạc,
kiểm tra, tôi còn tìm thấy rất nhiều mảnh sành mảnh sứ và cả tiền đồng thời Hán
nữa. Căn cứ vị trí địa lý, thì nơi đây có lẽ là cửa ải Wulei (Ô Lũy) thời Hán.
Về sau, vào thời nhà Đường, ngay cạnh di chỉ này, phong hỏa dài và thành lũy
phòng thủ đã được xây dựng, chung quanh còn có đồn điền và các trại lính, quy
mô rất lớn. Công trình kiến trúc này vẫn tồn tại cho đến thế kỷ XXI.

 

Tôi cứ thế tất bật với
công việc khảo sát suốt dọc đường đi. Ba ngày sau chúng tôi đã đến được Khâu
Từ.

 

Nhận ra bức tường thành
quen thuộc, tim tôi đập dữ dội, dường như cảm giác “về đến nhà” đang trào dâng
mạnh mẽ trong tôi. Không biết Ra­ji­va có đang ở Khâu Từ không? Cậu ta bao
nhiêu tuổi rồi? Có còn nhớ tôi không?

 

Chúng tôi vào thành từ
cổng phía đông, họ đòi kiểm tra giấy tờ, tôi tròn xoe mắt! Đang nghĩ xem có nên
viện cớ là người quen của quốc sư hay không thì người đàn ông Ba Tư biết tiếng
Tochari đã kịp nhét một túi nhỏ vào tay tên lính giữ thành, thế là hắn vung tay
ra hiệu cho phép cho chúng tôi qua.

 

Đây là thành cổ Khâu Từ
mà tôi từng thông thuộc ư? Từ phố lớn đến ngõ nhỏ chỗ nào cũng được quét dọn
sạch sẽ, tinh tươm. Dân chúng trong thành mặc những bộ trang phục đẹp nhất, kéo
về cổng thành phía tây, ai nấy đều náo nức như đi trẩy hội. Tôi nhìn những
người Ba Tư, họ nhún vai tỏ vẻ không hiểu. Đành phải chặn một người đi đường
lại để hỏi xem họ đang đi đâu. Người đó thấy tôi mặc trang phục của người Hán,
liền giải thích cho tôi biết hôm nay là ngày lễ rước tượng Phật (ngôn ngữ Phật
giáo gọi là “Hành tượng”), lát nữa sẽ có xe hoa chở tượng Phật vào trong thành
qua cửa phía tây, sau đó diễu hành qua khắp các đường phố để mọi người được
chiêm ngưỡng.

 

Ngày lễ rước tượng Phật?
Pháp Hiền và Huyền Trang từng viết rằng đây là lễ hội Phật giáo náo nhiệt nhất
được tổ chức tại Ấn Độ và các quốc gia Tây vực.

 

Thấy tôi đang ngẩn ngơ
suy nghĩ, người đó tưởng rằng người Hán không biết về ngày hội này, nên đã giải
thích rất nhiệt tình cho tôi. Sau khi Phật tổ nhập Niết Bàn, Phật tử buồn vì
không có duyên được thấy Phật, cho nên tổ chức ra ngày hội rước tượng Phật vào
ngày Phật Đản để mọi người được chiêm bái và cầu nguyện, vào ngày này, những
lời khẩn nguyện đặc biệt linh nghiệm. Nhưng ngày hội lớn như thế này lại không
được lưu truyền ở Trung Nguyên. Tôi thật may mắn vì tới đây đúng lúc, không thể
bỏ qua cơ hội được tận mắt chứng kiến ngày lễ Phật giáo trọng đại này được. Tôi
nói lời từ biệt với đoàn thương nhân Ba Tư, họ mang theo bên mình bao nhiêu là
hàng hóa, chắc chắn không thể đi cùng tôi. Người dẫn đầu đoàn thương nhân ấy
muốn biếu tôi một khoản tiền, nhưng tôi một mực từ chối. Người đó bèn lấy ra
một chuỗi hạt đeo tay bằng mã não trong suốt, lấp lánh rất đẹp, đặt vào tay
tôi, tôi đành nhận lấy.

 

Sau khi chia tay đoàn
người Ba Tư ấy, tôi hòa vào dòng người, đổ về cổng thành phía tây. Một khán đài
được dựng tạm trên cổng thành, những tấm vải bạt to rộng màu vàng màu đỏ, được
trang trí bằng vô số hoa tươi phủ lên trên. Khán giả trên khán đài là những
người ăn mặc cầu kỳ, sang trọng và nổi bật, tuy không nhìn rõ, nhưng chắc chắn
là hoàng tộc và quý tộc Khâu Từ. Tôi bị chen lấn, xô đẩy và dạt ra tận ngoài
cổng thành đến vài chục bước. Nhưng sau cùng cũng tìm được một khoảng trống để
đặt đủ hai chân, nhưng tôi chỉ có thể kiễng lên mà nhìn vào phía trong. Thảm đỏ
được trải dài trăm mét, chạy thẳng đến cổng chính phía tây. Lúc này, biển người
đột nhiên di động, tôi đưa mắt nhìn theo ra ngoài cổng thành, vẫn trong tư thế
kiễng chân, tôi thấy hai chiếc xe bốn bánh khổ lớn, giống hệt nhau, cao khoảng
bốn, năm mét, trang trí lộng lẫy, nguy nga như một cung điện nhỏ, phủ lên trên
một tấm phông màu vàng. Tôi từng nhìn thấy những cỗ xe rước tượng Phật như vậy
ở quảng trường lớn trước đây, cạnh tượng Phật tổ còn có hai bức tượng Bồ Tát
khổ nhỏ nữa. Tượng Phật được đúc bằng vàng, trên mình khoác áo cà sa màu vàng
với những họa tiết phức tạp và đeo đủ loại trang sức vàng bạc, châu báu.

 

Những cỗ xe chầm chậm
tiến vào cổng thành phía tây, rồi dừng lại trước thảm đỏ. Đức vua Khâu Từ từ
khán đài bước xuống, tháo vương miện, cởi giày, chân trần bước trên thảm đỏ,
hai tay nâng cao quá đầu một nén nhang dài, cung kính hướng về phía tượng Phật.
Đức vua nom đã luống tuổi, thân thể nặng nề hơn xưa. Bỗng, tôi như bị thôi
miên, người đang đứng trang nghiêm phía sau Bạch Thuần ấy, người khoác áo cà sa
dát kim tuyến, khí khái bất phàm ấy chính là Ra­ji­va, đúng rồi, là cậu ấy!

 

Giống như trong phim,
mọi thứ xung quanh trở nên mờ ảo, âm thành ồn ào huyên náo biến mất, trước mắt
tôi chỉ có hình ảnh Ra­ji­va là sống động và duy nhất.

 

Cậu ấy đã trưởng thành,
tuổi chừng hơn hai mươi, đẹp như một bức tượng điêu khắc Hy Lạp với sống mũi
cao vời vợi, đôi mắt sáng mênh mông, hàng lông mày dài mượt và dày đậm, đôi
đồng tử màu xám nhạt khi nhìn lên, tưởng chừng có thể thấu suốt mọi thứ trên
thế gi­an này. Làn môi mỏng khép chặt, đường môi sống động như vẽ ấy, thật dễ
làm say lòng người. Cậu ta trông rất cao, chắc chắn hơn một mét tám mươi. Cơ
thể đã săn chắc hơn nhiều so với độ tuổi mười ba, mặc dù vẫn gầy guộc, nhưng
vóc dáng rất cân đối. Khuôn mặt dài thanh tú, chiếc cằm nhọn và chiếc cổ thiên
nga quyến rũ, đường nét nào cũng hấp dẫn, cũng hút hồn. Và còn khí chất thoát tục
toát lên từ vẻ đạo mạo, nghiêm cẩn ấy nữa, giữa đám đông thế tục ô hợp, càng
trở nên nổi bật, khiến người khác không khỏi ngưỡng vọng.

 

Ra­ji­va ơi Ra­ji­va,
sao cậu lại trở nên khôi ngô, tuấn tú, sáng láng đến vậy? Cứ ngắm cậu thế này,
trở về thế kỷ XXI, làm sao tôi để ý đến những người đàn ông khác được nữa?

 

Bạch Thuần quỳ xuống
trước tượng Phật tổ, thị nữ bưng đến một chậu hoa rực rỡ sắc màu, nhà vua cắm
nén nhang lên hương án phía trước tượng Phật, rồi rắc hoa tươi lên mình tượng.
Đám đông reo hò vang dội. Lúc này, hoàng hậu cùng đám phụ nữ quý tộc cũng đứng
trên thành lầu rắc hoa tươi xuống dưới cổng thành. Tiếng trống, tiếng nhạc bắt
đầu được tấu lên, đoàn xe chầm chậm lăn bánh men theo thảm đỏ, tiến vào nội
thành. Bạch Thuần và một vài người khác dẫn đầu đoàn rước. Ra­ji­va cũng đi
cùng. Tôi hốt hoảng hét to:

 

– Ra­ji­va, Ra­ji­va,
tôi đây, tôi ở đây. Tôi về rồi!

 

Đám đông xô nhau về phía
cổng thành, tôi bị ép sát không thở nổi, cảm giác như toàn thân mình đang bị
đẩy đi, chân không hề chạm đất. Ra­ji­va đột ngột quay đầu lại, dường như đang
dõi về phía tôi. Tôi muốn gọi cậu ấy, nhưng những người phía sau chen lên, đẩy
tôi ngã sóng soài. Khi tôi luống cuống đứng dậy thì cậu ta đã đi xa mất rồi.
Nhìn theo bóng dáng mảnh khảnh ấy đang khuất dần về phía nội thành, tôi cười
buồn. Có lẽ cậu ta không nghe thấy tiếng tôi gọi, giữa biết bao thanh âm hỗn
tạp như vậy, làm sao mà nghe thấy được. Lúc này tôi mới cảm thấy vết trầy xước
bỏng rát trong lòng bàn tay và trên khuỷu tay. Quần áo mùa hè mỏng manh, chẳng
có tác dụng gì!

 

Tôi thơ thẩn đi theo
đoàn xe vào thành phố, mỗi khi đến trước cổng đền chùa hay cung điện, đoàn xe
đều dừng lại. Sau đó sẽ có những chàng trai và cô gái mặc đồ lụa rất đẹp, tay
xoay tròn khay gỗ và nhảy múa. Vạt áo, thắt lưng trên người họ theo gió tung
bay, trong tiếng nhạc rộn ràng và với những động tác thuần thục khéo léo họ vừa
nhảy múa vừa rắc hoa tươi đựng trong khay gỗ lên tượng Phật. Khán giả xung
quanh vỗ tay rầm rầm tán thưởng. Tiếp đến là một thiếu nữ dáng vẻ yêu kiều, mặc
một chiếc váy voan mỏng mềm mại, hai tay nâng cao một chiếc bát bằng vàng, chân
trần nhảy múa, động tác uyển chuyển điêu luyện, miệng tươi như hoa, chốc chốc
lại nhấc cao chân trái lên, hai tay nâng chiếc bát vàng qua đầu. Điệu múa này
đã được phác họa sinh động trên những bức bích họa ở Đôn Hoàng và Kizil.

 

Tôi hỏi chuyện một cụ
già đứng bên cạnh. Cụ cho tôi biết, hai vũ điệu này gọi là múa đĩa (Bàn vũ) và
múa bát (Uyển vũ). Múa đĩa, là điệu múa rắc hoa lên tượng Phật và người đi
đường, tượng trưng cho sự ca ngợi và tôn kính đối với Phật tổ. Múa bát là điệu
múa bắt nguồn từ câu chuyện Phật tổ trong sáu năm tu khổ hạnh, ngài muốn khắc
chế bản thân, nên đã áp dụng phương thức hành xác trong mọi sinh hoạt ăn ở và
đi lại. Thế nhưng, đến lúc lả đi vì kiệt sức, ngài vẫn không thể đắc đạo. Sau
cùng, ngài đến ngồi thiền dưới gốc bồ đề và đã giác ngộ, rồi ngài sáng lập ra
Phật giáo. Sau khi ngộ đạo, Phật tổ ra sông tắm gội, ngài được một cô gái trẻ
cúng dường một bát cháo. Điệu múa này chính là điệu múa mô phỏng câu chuyện cô
gái trẻ kia cúng cháo cho Đức Phật.

 

Vũ điệu và âm nhạc đều
rất cuốn hút, nhất là với một người đến từ thế kỷ XXI như tôi, nhưng không làm
nguôi ngoai những ngổn ngang trong lòng tôi. Đôi mắt tôi cứ bất giác len qua
những vũ điệu, len qua tượng Phật, len qua đám đông ồn ào, để kiếm tìm bóng
dáng khổ hạnh, thoát tục ấy…

 

Mỗi lần tưởng như nhìn
thấy người đó rồi, tôi chạy vượt lên tìm kiếm, chợt sững lại, hóa ra chỉ là ảo
giác. Chỉ là ảo giác thôi ư? Chợt nhớ đến câu thơ:

 

Giật mình tôi ngoảnh lại

 

Bỗng thấy Người đứng đó,

 

Bên tàn lửa lung linh.

 

Tôi hít một hơi thật
sâu, thử quay đầu lại, không có ai. Dụi mắt, nhìn quanh, vẫn không ai cả.

 

Trời tối dần, trên phố
vẫn rộn ràng lời ca tiếng hát, đã đến lúc phải lo tìm chỗ ở. Tôi tách ra khỏi
đám đông, hỏi thăm vài nhà trọ, đều được thông báo là đã hết phòng. Hay là đến
phủ quốc sư? Nhưng bộ dạng của tôi thế này, chắc sẽ khiến họ sợ hãi. Không phải
trông tôi dữ dằn hung ác đâu bạn ạ, thực ra dung mạo của tôi cũng không đến nỗi
nào, đảm bảo không làm khán giả phải thất vọng. Tôi từng được phong danh hiệu
hoa khôi của lớp nghiên cứu sinh khoa lịch sử, tất nhiên, lớp học của tôi nam
nhiều hơn nữ. Nhưng nếu bạn nhìn thấy một người mà sau gần mười năm hoặc hơn
mười năm (tôi vẫn chưa biết thời gi­an ở đây đã trôi qua bao nhiêu năm rồi)
dung mạo không hề thay đổi, phản ứng của bạn sẽ thế nào?

 

Đang do dự không biết
phải làm sao thì tôi gặp được cứu tinh, chính là những thương nhân người Ba Tư
ấy. Họ đưa tôi đến giáo đường Hỏa giáo của họ, phía sau khu giáo đừng có các
căn phòng dành riêng cho những người Ba Tư khi đi qua nơi này trọ lại, có nét
gì đó giống với các hội quán ở Thiểm Tây, Ôn Châu. Tôi đã ở lại đây trong đêm
đầu tiên trở lại Khâu Từ.

 

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+