Trang chủ » Thế giới truyện » Văn học cổ điển

Em ở đâu – Marc Levy – Update – Chương 2.1 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương
2.1


Ngày
25 tháng Chín năm 1974, trong khoang máy bay…     

Philip của em,     

Chắc rằng lúc nãy, em đã không giấu nổi anh nỗi sợ hãi đang cuộn lên trong lòng
em. Sân bay vừa vụt biến mất sau lưng em. Em đã cảm thấy chóng mặt mãi đến khi
những đám mây che lấp hoàn toàn mặt đất, bây giờ đã đỡ hơn nhiều. Em thất vọng
quá, em không thấy được Mahattan, nhưng phía dưới em, bầu trời vừa lộ ra và em
gần như có thể đếm được từng đầu ngọn sóng, chúng nhỏ xíu, giống như những con
cừu. Thậm chí em đã dõi mắt theo một con tàu lớn đang hướng về phía anh. Ở
Mahattan, anh sẽ có một thời tiết rất đẹp.   

Em không biết anh có đọc được chữ em đang viết không, máy bay đang lắc rất mạnh.
Cả một hành trình dài đang đợi em phía trước, em sẽ đến Miami trong sáu giờ nữa,
sau khi quá cảnh ở Washington, sau đó hành khách chúng em sẽ đổi phi cơ để bay
đến Tegucigalpa (1). Chỉ riêng cái tên thành phố thôi đã thấy kì diệu rồi. Em
đang nghĩ đến anh thật nhiều, anh chắc hẳn đang trên đường trở về nhà; hãy ôm
hôn ba mẹ anh thật chặt cho em nhé, em sẽ viết cho anh, kể anh nghe về chuyến
đi này, anh cũng vậy, hãy tự chăm sóc cho mình, Philip của em…     

* * *           

Susan,

Anh vừa về đến nhà, ba mẹ chẳng hỏi han anh câu nào, chắc chỉ nhìn thấy bộ mặt
của anh ba mẹ đã đủ hiểu. Anh tự trách mình về thái độ của anh ban nãy, lẽ ra
anh phải tôn trọng niềm vui và mong muốn của em được rời xa nơi này, em đã có
lí, anh cũng không biết nếu em yêu cầu anh cùng đi với em, anh có đủ can đảm để
ra đi không. Nhưng em đã không làm điều đó và anh nghĩ rằng như vậy lại tốt
hơn. Anh không biết câu vừa rồi diễn đạt điều gì nữa. Những buổi tối sẽ rất dài
khi không có em. Anh sẽ gửi lá thư đầu tiên tới văn phòng của Peace Corps ở
Washington, họ sẽ chuyển tới em.
Chưa gì anh đã nhớ em nhiều quá.   

Philip.

* * * 

…em lại lấy giấy và bút ra, có một ánh sáng thật đặc biệt, anh chưa bao giờ
nhìn thấy ánh sáng nào như vậy đâu và em cũng vậy. Ở đây, phía trên những đám
mây, em đang chứng kiến cảnh mặt trời lặn thực sự, nhìn từ trên cao, cảnh tượng
đẹp đến khó tả, em cứ tiếc mãi là anh không có ở đây để chứng kiến những gì em
đang nhìn thấy, lúc nãy em quên nói với anh một điều rất quan trọng, em nghĩ rằng
em sẽ nhớ anh kinh khủng.         

Susan.

* * *

Ngày 15 tháng Mười năm 1974.      

Susan.

Đã ba tuần trôi qua kể từ ngày em đi, anh vẫn chưa nhận được lá thư đầu tiên của
em, anh tưởng tượng nó đang đi chu du ở đâu đó, giữa anh và em. Những người
thân của anh và em vẫn thường xuyên hỏi anh tin tức về em, nếu như anh vẫn
không nhận được gì trong mấy ngày tới, anh sẽ phải bịa ra cái gì đó để kể…

* * *

Ngày 15 tháng Mười năm 1974,      

Philip

Hành trình của em đã gặp nhiều xáo trộn. Chúng em đã bị kẹt lại trong suốt bốn
ngày tại chặng quá cảnh ở Miami, phải đợi hai contener lượng thực và đợi sân
bay La Ceiba, chặng dừng chân tiếp theo, mở cửa trở lại. Em định tranh thủ đi
vòng quanh thăm thành phố nhưng hóa ra chỉ là mơ tưởng hão. Em và những thành
viên khác trong đoàn phải ở lại trong một nhà kho. Mỗi ngày ba bữa ăn, hai lần
tắm và ngủ trên một cái giường kiểu trại lính, những giờ học tiếng Tây Ban Nha
cấp tốc và học cứu nạn, tất cả giống như cuộc sống trong quân đội, chỉ thiếu một
người chỉ huy trưởng. Cuối cùng thì chiếc DC3 cũng đưa bọn em đến Tegucipalpa,
từ đó một chiếc trực thăng quân đội đưa bọn em đến Ramon Villesla Morales, một
sân bay nhỏ của thành phố San Pedro Sula. Thật khó tưởng tượng nổi, Philip,
nhìn từ trên cao, người ta cứ tưởng thành phố này bị dội bom. Hàng cây số vuông
mặt đất hoàn toàn trơ trụi, những mảng tường đổ nát, cầu gãy, những nghĩa địa tạm
bợ hầu như mọc khắp nơi. Khi máy bay bay thấp, bọn em có thể nhìn thấy rõ những
cánh tay nhô lên từ những đại dương bùn lầy, hàng trăm xác thú vật chết phơi bụng.
Khắp nơi tràn ngập một thứ mùi hôi thối. Mặt đường bị xới bật lên, nhìn giống
như những dải băng keo bị tháo bung trên những chiếc thùng cac tông nằm phanh bụng.
Những gốc cây bật rễ nằm chồng chất lên nhau. Không có bất cứ thứ gì sống sót
được trong những khu rừng ở Mikado này. Những triền núi hoàn toàn đổ sập, hàng
loạt những ngôi làng nằm cheo leo nơi này vĩnh viễn bị gạch tên trên bản đồ. Chẳng
ai đếm được hết số xác chết nhưng chắc hẳn phải là con số hàng nghìn. Ai biết
được thực sự con số những xác chết bị chôn vùi? Làm sao những người may mắn
thoát chết tìm lại đủ sức mạnh để sống sót qua cơn hoạn nạn này, với chừng ấy nỗi
tuyệt vọng? Trên chiếc trực thăng này, chúng em chỉ có mười sáu người trong khi
lẽ ra phải cần đến hàng trăm người để hỗ trợ họ.       

Nói em nghe đi, Philip, nói em nghe tại sao những cường quốc chúng ta gửi hàng
đại đội đi tham chiến, nhưng chúng ta lại chỉ có thể cử vài nhúm người đến cứu
mạng sống của các trẻ em? Phải mất bao nhiêu thời gian nữa, chúng ta mới học được
điều hiển nhiên đó? Philip, với anh, em có thể chia sẻ cảm giác kì lạ này, em
đang đứng đó giữa những xác chết, và hơn bao giờ hết em cảm thấy mình đang sống.
Điều gì đó đã thay đổi, đối với em, sống không chỉ còn là một quyền lợi, nó đã
trở thành một ân huệ. Em yêu anh rất nhiều, Philip của em.      

Susan.

* * *

Ngày 25 tháng Mười,    

Susan

Hàng loạt phóng sự kể lại những điều kinh hoàng nơi em đang sống đã xuất hiện
trên các trang báo tuần này, vào đúng thời điểm anh nhận được bức thư đầu tiên
của em. Báo chí nói đến con số mười nghìn người chết. Anh nghĩ đến em từng giây
phút, cố tưởng tượng những gì em đang trải qua. Anh kể về em với từng người và
tất cả đều nói về em. Trong tờ Montclair Times ra ngày hôm qua, phóng viên đã
viết về nhóm cứu trợ nhân đạo mà đất nước chúng ta gửi sang đó, cuối bài anh ta
nhắc đến tên em, anh đã cắt bài báo và gửi kèm cho em theo lá thư này. Tất cả mọi
người đều hỏi anh tin tức về em, điều đó càng làm cho sự thiếu vắng em trở nên
khó khăn hơn đối với anh. Anh nhớ em biết bao! Năm học đã bắt đầu trở lại, anh
đang tìm một chỗ ở gần trường, anh đã nộp hồ sơ đăng kí thuê một căn phòng kiểu
nghệ sĩ để ở và làm việc nhưng sẽ phải sơn sửa lại, trong một chung cư nhỏ ba tầng
ở phố Broome. Nơi này sẽ cần được sửa sang lại. Nguyên cả khu phố cũng ở trong
tình trạng khá cũ kĩ, nhưng căn phòng rộng và giá thuê nhà ở đây quả thật rất
phải chăng, hơn nữa, em thử tưởng tượng xem, sống ngay giữa Manhattan! Khi em
quay lại đây, chúng ta sẽ sống chỉ cách rạp Fiml Forum mấy dãy phố, em còn nhớ
nó không? Thật khó mà tin nổi, trên cửa kính của quán bar đối diện có treo một
lá cờ Honduras; trong khi chờ đợi em ở đây, mỗi ngày anh đều đi ngang qua phía
trước quán, đó là một dấu hiệu. Em nhớ giữ gìn sức khỏe. Anh nhớ em.  

Philip.

* * *

Những lá thư của Susan đều đặn đến tay anh mỗi tuần một lá, anh viết thư trả lời
ngay tối hôm nhận được thư. Có khi lá thư gửi đi và lá thư đến tình cờ gặp
nhau, và anh nhận được những câu trả lời trước cả khi kịp gửi những câu hỏi. Dưới
vĩ tuyến thứ hai mươi, những cộng đồng dân cư tự trang bị cho mình một thứ vũ
khí duy nhất là lòng dũng cảm, và cả đất nước nỗ lực tái thiết trong những điều
kiện thiếu thốn do thiên tai. Susan và các đồng nghiệp của cô đã dựng được trại
trú ẩn đầu tiên. Họ đã chọn nơi xây dựng của mình tại thung lũng Sula, giữa các
dãy núi San Idelfonso và Cabaceras de Naco. Tháng Giêng khởi đầu cho một chiến
dịch tiêm chủng rộng rãi. Với một chiếc xe tải cũ kĩ, Susan rong ruổi trên mọi
con đường, tranh thủ phân phát lương thực, hạt giống và thuốc men. Khi không ngồi
sau tay lái chiếc Dodge, cô dành thời gian để tổ chức trại. Ngôi nhà đầu tiên
được dựng lên được dùng làm nơi khám chữa bệnh, căn phòng tiếp theo làm văn
phòng hành chính. Mười ngôi nhà làm từ đất trộn và gạch đã trở thành nơi trú
chân cho ba mươi gia đình. Cuối tháng Hai, khu xóm nhỏ của Susan được hình
thành, trải rộng trên ba con phố, với hai dãy gồm hai mươi mốt căn nhà tranh
vách đất. Trong số hai trăm con người trú ngụ nơi đây, hai phần ba đã có lại được
một mái nhà để ở. Những người khác ngủ trong lều. tại nơi đã trở thành một quảng
trường nhỏ để tập trung dân làng, móng của một trường học đang bắt đầu mọc lên.
Mỗi buổi sáng, sau khi nuốt vội một chiếc bánh bắp, cô lái xe đến nhà kho bằng
gỗ vừa dựng xong đúng vào dịp Noen, chất đầy hàng hóa trên xe tải và bắt đầu cuộc
hành trình thường lệ. Khi Juan quay chiếc tay quay để khởi động xe, cả cabin
rung lên ầm ầm. Juan phải buông tay lái ra bởi nếu không tay cậu sẽ bị mẩn ngứa
hết lên, và chờ cho đến khi chiếc xilanh nóng lên đủ để những chiếc pittong chấp
nhận bắt đầu chu trình vận hành.
Juan chưa tròn mười tám tuổi. Cậu sinh ra tại Puerto Cortes và không còn nhớ nổi
gương mặt cha mẹ mình nữa. Lúc chín tuổi, cậu đặt chân đến cảng, mười một tuổi
rưỡi cậu bắt đầu biết thả lưới trên một chiếc thuyền đánh cá. Mười ba tuổi, cậu
một mình đến sống trong thung lũng và từ đó, tất cả mọi người đều biết cậu. Cậu
thiếu niên với dáng vóc của một người đàn ông đã ngay lập tức chú ý đến người
mà cậu gọi là “Senora Blanca”(1) ngay khi cô vừa bước xuống từ ở chiếc xe đến từ
Sula. Cậu bé lập tức quanh quẩn bên cô. Thoạt đầu Susan tưởng cậu là một đứa trẻ
ăn mày. Juan tự mình kiếm sống bằng cách làm thuê. Cậu làm một số việc vặt cho
người ta để đổi lấy một ít thức ăn hoặc chỗ trú chân trong những đêm trời mưa
to. Cậu sửa mái nhà, sơn lại hàng rào, tắm cho ngựa, chăn gia súc, mang vác đủ
các loại hàng hóa, bốc dỡ kho thóc. Trong tất cả mọi việc, dù là khởi động chiếc
Dodge xanh da trời nhạt, chất các két hàng lên hay ngồi phía sau xe để giúp cô
trong những chuyến hành trình hàng ngày, Juan luôn chăm chú đón đợi từng cử chỉ
của Susan tỏ ra là “tôi cần sự giúp đỡ”. Từ tháng Mười một, mỗi sáng cô đều chuẩn
bị hai chiếc bánh bắp, đôi khi kèm thêm một thỏi socola, hai người cũng chia
nhau ăn trước khi lên đường. Dù có lạc quan đến mấy, đất đai vẫn chưa thể cho
rau xanh vào trước mùa tới, và những con đường bị đứt đoạn khiến cho thực phẩm
tươi không thể chuyên chở được đến khắp các vùng của đất nước. Những loại lương
thực gọi là để duy trì cuộc sống là thứ duy nhất người ta có, và như thế đã đủ
để dân làng coi như là bữa tiệc của Thượng Đế. Trên những nẻo đường đi ngang
qua một vùng nông thôn hoang tàn, sự có mặt của Juan, đang nằm dài dưới mái bạt
trong thùng xe phía sau làm cho Susan cảm thấy yên tâm hơn, nhưng im lặng vẫn
bao trùm lên hành trình của họ và những nơi họ đi qua vẫn hằn dấu vết của tang
tóc.

* * *

Ngày 8 tháng Giêng năm 1975,

Philip

Những ngày cuối năm đầu tiên xa anh, xa thành phố của chúng ta, xa tất cả. Một
thời khắc kì lạ, tất cả lẫn lộn trong đầu em: một cảm giác cô đơn xâm chiếm em,
đôi khi vơi đi phần nào bởi niềm vui được trải nghiệm nhiều điều rất đỗi đặc biệt.
Trước đây, vào thời khắc của nửa đêm giao thừa, chúng ta vẫn ở bên nhau, trao
cho nhau những món quà. Còn giờ đây, em đang sống khoảnh khắc này giữa những
con người thiếu thôn mọi thứ. Những đứa trẻ ở đây đánh nhau để tranh giành những
tờ giấy gói, một mẩu dây bình thường nhất cũng có lợi ích của nó. Điều kiện thì
thiếu thốn như vậy đấy, nhưng giá mà anh có thể thấy được hương thơm của lễ hội
đang tràn ngập khắp các con đường. Những người đàn ông bắn lên trời những viên
đạn cũ để mừng niềm hi vọng đã giúp họ tiếp tục tồn tại. Những người phụ nữ nhảy
múa trên đường, nắm tay những đứa trẻ quay tròn ngập tràn trong cảm giác hạnh
phúc, còn em, em cảm thấy ngất ngây. Em vẫn nhớ cảm giác buồn man mác xâm chiếm
chúng ta vào thời khắc cuối cùng của một năm, em nhớ em đã trải qua hàng giờ
trút sang anh những ý nghĩ ảm đạm của em, bởi vì mọi thứ không được êm đẹp
trong cái thế giới nhỏ bé của em. Ở đây, tất cả mọi người đều để tang người
thân, những người phụ nữ mất chồng, và những người đàn ông mất vợ, nhưng họ đều
bám víu vào cuộc sống để tồn tại mà vẫn giữ được một niềm kiêu hãnh đến khó
tin. Chúa ơi, dân tọc này mới đẹp làm sao trong cơn hoạn nạn mà họ đang trải
qua. Món quà Noel của em, Juan đã làm nó cho em, một món quà mới đặc biệt làm
sao! Đó là ngôi nhà đầu tiên của em, nó sẽ rất đẹp, trong vài tuần nữa, em sẽ
có thể dọn đến nhà mới. Juan đang đợi đến cuối tháng, những cơn mưa sẽ ngưng và
cậu ấy sẽ có thể sơn mặt tiền ngôi nhà. Để em miêu tả nó cho anh nhé. Juan đã đắp
nền nhà bằng đất trộn với rơm và sỏi, rồi cậu lấy gạch để xây tường xung quanh.
Cùng với một vài người dân làng đến giúp, cậu tận dụng những khung cửa trong đống
đổ nát và đặt hai ô cửa sổ ở hai bên chiếc cửa xinh đẹp màu xanh da trời. Nền của
căn phòng duy nhất vẫn còn bằng đất. Bên trái sẽ có một lò sưởi nằm dựa vào một
trong những bức tường, bên cạnh sẽ có một cái chậu bằng đá, đó sẽ là góc nhà bếp.
Để làm vòi hoa sen, Juan sẽ bố trí một bể hứng nước mưa trên nóc nhà mái bằng..
Khi kéo sợi dây xích, em sẽ có một vòi sen nước lạnh hoặc nước ấm tùy vào thời
điểm trong ngày. Miêu tả thế này, phòng tắm của em có vẻ thật tồi tàn và căn
nhà của em quá trống trải, nhưng em biết là nó sẽ ngập tràn sự sống. Em sẽ đặt
bàn làm việc trong góc phòng khách, đó là phần mà Juan muốn ốp ván sàn ngay khi
cậu ấy tìm được một vật liệu gì đó thích hợp. Một chiếc thang dẫn lên gác lửng,
em sẽ đặt trên đó cái nệm của mình. Thôi kể vậy là nhiều rồi, đến lượt anh viết
cho em, kể em nghe anh đã trải qua những ngày lễ cuối năm như thế nào, cuộc sống
của anh ra sao. Em vẫn luôn nhớ anh. Muốn làm một cơn mưa phủ đầy những nụ hôn
của em lên giường của anh.

Susan của anh.

* * *

Ngày 29 tháng Giêng năm 1975,

Susan

Anh không nhận được những lời chúc của em! Đúng ra là vẫn chưa nhận được. Hi vọng
là bức tranh anh vẽ gửi tặng em kèm trong lá thư này không bị hư hại nhiều sau
quá trình vận chuyển. Chắc em sẽ tự hỏi hình ảnh con đường vào ban mai này có
nghĩa gì, thì em biết không, anh có một tin vui muốn báo cho em đây, căn phòng
phố Broome, anh đã thuê được rồi, hiện nay anh đang ở đó, và anh đang vừa viết
cho em, vừa nhìn ra con phố vắng vẻ của khu SoHo qua khung cửa sổ trước mặt, đó
chính là hình ảnh mà anh vẽ cho em. Em không thể biết được việc dời khỏi
Montlair đã là một thay đổi lớn đối với anh như thế nào đâu, anh có cảm giác
như mình đã đánh mất hết mọi điểm quy chiếu trong cuộc sống; nhưng đồng thời,
anh cũng biết rằng điều đó sẽ giúp mình cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều.

Anh dậy sớm và đến quán cà phê Reggio để dùng bữa điểm tâm sáng, phải đi vòng một
chút, nhưng anh rất thích ngắm ánh sáng buổi sớm chiều rọi xuống những con phố
nhỏ lát những viên đá lớn hơi gồ ghề và không đều này, những vỉa hè ngoằn ngoèo
với những tấm bảng đúc bằng gang gắn những viên bi ve, những mặt tiền nhà như
được trang trí hình răng cưa bởi những cầu thang sắt gắn phía trước, khu này thật
tuyệt. Em biết không, anh nghĩ rằng anh sẵn sàng viết lung tung bất cứ điều gì
để thỉnh thoảng em nghĩ đến anh, để em trả lời thư anh và kể anh nghe về em.
Anh không ngờ là anh lại nhớ em đến thế,Susan, anh vùi đầu vào bải vở và anh tự
nhủ với mình mỗi ngày qua, rằng không có em ở bên thời gian trở nên quá dài, rằng
lẽ ra anh phải nhảy lên một cái máy bay và đến ngay bên em, dù anh biết, như em
đã nhiều lần nói với anh, rằng đó không phải cuộc sống của anh. Nhưng xa em,
anh tự hỏi cuộc sống của anh sẽ như thế nào.

Vậy đó, nếu lá thư này không kết thúc đời mình trong thùng rác thì có nghĩa là
chai rượu bourbon(1) anh vừa uống cạn đã có ep-phê., anh sẽ tự cấm mình đọc lại
thư vào sáng mai, hay là ngay đêm nay, anh đã ghé thăm chiếc thùng thư nằm ở
góc phố. Sáng sớm, khi ra khỏi nhà, anh vẫn thường liếc mắt nhìn nó khi băng
qua đường như thể chính nó sẽ mang đến cho anh một lá thư của em, chốc lát nữa
trong ngày, một lá thư mà anh sẽ tìm thấy khi từ trường về nhà. Đôi khi anh có
cảm giác như nó mỉm cười giễu cợt anh, một cách rất thản nhiên. Trời lạnh khủng
khiếp. Anh hôn em,

Philip.

* * *

Ngày 27 tháng Hai năm 1975,

Philip

Một lá thư ngắn. Hãy tha lỗi cho em vì đã không viết được cho anh thường xuyên
hơn, lúc này em đang ngập đầu trong công việc, và, khi trở về nhà, em không còn
đủ sức để viết nữa, chỉ vừa đủ sức để lê đến cái nệm và ngủ vài tiếng đồng hồ.
Tháng Hai sắp kết thúc, ba tuần liền không mưa, đó như một điều kì diệu. Những
hạt bụi đầu tiên sau một khoảng thời gian chỉ biết đến bùn. Bọn em đã có thể thực
sự bắt tay vào việc và em có cảm giác như những cố gắng đầu tiên đã được đền
đáp: sự sống đang chiến thắng.
Đây là lần đầu tiên em ngồi ở bàn làm việc của mình, em đã treo bức tranh của
anh phía trên lò sưởi, như thế em và anh có cùng một hình ảnh trước mặt. Em rất
vui biết anh đã chuyển đến sống ở Manhattan. Ở trường đại học, cuộc sống của
anh thế nào, anh hẳn bị vây quanh bởi rất nhiều cô sinh viên không cưỡng lại sự
quyến rũ của anh? Hãy tranh thủ đi, anh ạ, đừng để các cô ấy phải khốn khổ quá
anh nhé. Gửi anh những nụ hôn dịu dàng.
Susan

* * *

Ngày 4 tháng Tư năm 1975,

Susan

Ánh sáng của những ngày lễ đã tắt từ lâu và những trang lịch của tháng Hai đã nằm
phía sau chúng ta. Cách đây hai tuần, tuyết bắt đầu rơi, làm tê liệt cả thành
phố trong suốt ba ngày liên tiếp, trong một nỗi sợ hãi khó tả bao trùm. Không
có một chiếc xe nào có thể đi lại, những chiếc taxi chạy theo hình zigzag giống
như những chiếc xe trượt tuyết trên đại lộ Cinquieme, đội lính cứu hỏa đã không
thể dập tắt một đám cháy ở khu Tribeca vì nước đã đóng băng. Và thật là kinh
hoàng, ba người ăn mày chết vì lạnh trong công viên Central Park, trong đó có một
người phụ nữ ba mươi tuổi. Người ta đã tìm thấy người phụ nữ này đang ngồi, bị
đóng băng trên một chiếc ghế trong công viên. Chương trình thời sự buổi sang và
buổi tối trên đài truyền hình chỉ toàn nói về chuyện này. Ai cũng tự hỏi tại
sao hội đồng thành phố không mở những trung tâm hỗ trợ cho người vô gia cư khi
những đợt lạnh cao điểm kéo về. Làm sao có thể chấp nhận còn những con người phải
chết như vậy ở thời đại của chúng ta, trên đường phố New York, thật thương tâm!
Thế em cũng vậy à, em cũng đã dọn về ở trong một ngôi nhà mới? Cái câu châm
chích của em về những cô gái trong trường hay nhỉ, vậy thì đến lượt anh: cái
anh chàng Juan, người chăm sóc cho em tận tình đến thế là ai vậy? Anh học như
điên, chỉ vài tháng nữa là các kì thi bắt đầu. Em vẫn nhớ anh đôi chút đấy chứ?
Hãy viết cho anh nhanh đi.

Philip

* * *

Ngày 25 tháng Tư năm 1975,

Philip

Em đã nhận được thư anh, lẽ ra em phải viết thư trả lời anh từ cách đây hai tuần
cơ, nhưng em chẳng thể nào có đủ thời gian, đã đến cuối tháng Tư rồi, trời rất
đẹp, và nóng lắm, đôi khi không khí bốc một mùi thật khó chịu. Bọn em đã đi suốt
mười ngày cùng với Juan, đi xuyên qua thung lũng Sula và leo lên những con đường
trên đỉnh Cabacelas de Naco. Mục đích chuyến đi của bọn em là đến được với những
xóm dân cư nằm cheo leo trên vách núi. Hành trình không dễ dàng chút nào.
Dodge, đó là cái tên mà chúng em đã đặt cho chiếc xe tải của cả bọn, đã suýt bỏ
rơi bọn em đến hai lần, nhưng Juan quả thật có đôi bàn tay của nhà ảo thuật.
Lưng em bây giờ mỏi nhừ, anh không thể biết được phải thay bánh cho một cái xe
như vậy là thế nào đâu. Thoạt đầu những người nông dân trong làng tưởng bọn em
là mấy người sandiniste(2), còn mấy người sandiniste thì lại thường lầm tưởng
chúng em là những người bên quân đội giả làm thường dân. Giá mà họ có thể thống
nhất được với nhau thì đỡ cho công việc của bọn em biết mấy.

Ở chốt chặn đầu tiên, thú thật là tim em đập loạn cả lên. Em chưa bao giờ nhìn
thấy những họng súng máy kê sát mặt mình đến thế. Chúng em đã phải đưa cho họ
vài túi bột mì và mười hai cái chăn để đổi lấy sự bình yên cho chuyến đi. Con
đường dọc sườn núi đá khó đi vô cùng. Bọn em đã phải mất hai ngày mới lên cao
được 1.000 mét. Thật khó có thể miêu tả hết với anh những gì chúng em đã thấy
trên đó. Những xóm dân đói không có gì để ăn, chưa bao giờ nhận được sự hỗ trợ
từ bất kì ai. Juan đã phải thương lượng rất gay go mới có thể chiếm được lòng
tin của những người canh gác ngọn đèo…

Họ được đón tiếp bởi những con người với thái độ hết sức nghi ngờ và đề phòng.
Tiếng kêu ì ì của cỗ máy xe tải truyền đi trước khá xa và những người dân trong
xóm đã tập trung dọc theo con đường để dõi theo bước tiến chậm chạp của chiếc
Dodge già nua với cái hộp số kêu lên như sắp gẫy mỗi khi đến một khúc quanh.
Khi đến chỗ ngoặt báo hiệu điểm cuối của con đường hoang vu, chiếc xe gần như
phải dừng hẳn lại trong một nỗ lực để bám cua, hai người đàn ông phóng ra từ
hai bên lề đường, nhảy lên đứng trên bậc lên xuống của xe và chĩa những chiếc
dao rựa của họ vào khoang lái. Giật mình, Susan giật tay lái làm chiếc xe bị trệch
hướng, cô vội đạp phanh gấp, xém chút xíu là chiếc xe lao xuống vực.

Giận điên lên, không còn biết sợ hãi là gì nữa, cô lao ra khỏi cabin. Cô đẩy cửa
xe ra quá mạnh nên đã hất ngã một trong hai người đàn ông xuống đất. Ánh mắt sầm
lại và hai tay chống ngang hông, cô rủa xả họ một trận tơi bời. Người nông dân
đứng dậy ngỡ ngàng, anh ta không hiểu một từ nào trong cả tràng ngôn ngữ mà người
phụ nữ da trắng đang hét vào mặt anh ta, nhưng Quý cô da trắng rõ ràng là đang
giận dữ ghê lắm. Đến lượt Juan xuống xe, với một vẻ bình tĩnh hơn, cậu giải
thích với họ lí do của cuộc viếng thăm này. Sau vài giây lưỡng lự, một trong
hai người nông dân giơ cánh tay trái lên trời và một nhóm khoảng mười người dân
làng tiến lại phía anh ta. Họ túm tụm lại và bắt đầu tranh luận. Cuộc nói chuyện
kéo dài rất lâu, ngày càng trở nên sôi nổi và có vẻ như không có hồi kết. Susan
leo lên mui xe tải và lạnh lùng ra lệnh cho Juan bấm còi. Cậu ta mỉm cười và
thi hành mệnh lệnh. Tiếng tranh cãi bị tiếng còi khàn khàn của chiếc xe tải át
dần và cuối cùng ngưng hẳn. Cả nhóm người quay về phía Susan. Cô cố gắng tập
trung hết vốn liếng tiếng Tây ban Nha của mình và hướng về phía người có vẻ là
thủ lĩnh trong nhóm.

– Tôi mang theo chăn đắp, lương thực và thuốc men. Bây giờ, hoặc là các anh
giúp tôi gỡ mọi thứ xuống, hoặc tôi sẽ thả phanh tay và đi bộ về nhà!
Một người phụ nữ băng qua đám đông đang đứng im lặng và tiến lên phía trước chiếc
xe tải, bà làm dấu thánh giá. Susan tìm cách trèo xuống từ mui xe, tìm cách
tránh không để bị trẹo mắt cá chân, người phụ nữ giơ một tay ra đỡ cô, và ngay
lập tức một người đàn ông khác cũng đến giúp. Mặc kệ đám đông, cô đi ra phía
sau xe nơi Juan đang đứng. Dân làng từ từ rẽ ra hai bên nhường đường cho cô.
Juan nhảy lên thùng xe phía sau và hai người cùng nâng tấm vải bạt lên. Cả dân
làng vẫn lặng im đứng bất động, cô lấy ra một lố chăn và quảng xuống đất..
Không ai động đậy.

– Họ đang chờ cái gì cơ chứ, phát điên mất!

– Cô ơi, Juan nói, những gì cô mang đến là vô giá đối với những con người này,
họ đang chờ xem cô sẽ đòi hỏi họ điều gì và họ biết rõ là họ chẳng có gì để đổi
lại cho cô.

– Vậy thì hãy nói với họ rằng điều duy nhất cô yêu cầu ở họ, đó là giúp chúng
ta dỡ những thứ này xuống.

– Thực ra thì sẽ hơi phức tạp hơn thế một chút đấy cô ạ.

– Thế nếu muốn đơn giản thì phải làm sao đây?

– Cô hãy mang băng tay của tổ chức Peace Corps vào và lượm một trong số những
cái chăn mà cô vừa quăng xuống đất lên và mang đến đặt lên vai của người phụ nữ
vừa làm dấu thánh giá.

Vừa đặt chiếc chăn ca-rô nhỏ lên vai người phụ nữ, cô vừa nhìn sâu vào mắt bà
và nói bằng tiếng Tây Ban Nha: “Tôi tới đây để mang cho các bạn những thứ mà lẽ
ra chúng tôi đã phải mang đến cho các bạn từ lâu rồi, hãy tha lỗi cho tôi vì đã
chậm trễ đến thế.”

Teresa ôm lấy cô và hôn lên má cô. Những người đàn ông vô cũng hoan hỉ tranh
nhau chạy lại phía xe tải và dỡ hết hàng hóa trên xe xuống, Susan và Juan được
mời ăn tối với tất cả dân làng. Màn đêm buông xuống, một đống lửa to được nhóm
lên và một bữa ăn đạm bạc được dọn ra.

Trong lúc ăn tối, một cậu bé đến gần sau lưng Susan. Cô cảm nhận được sự có mặt
của cậu bé, quay lưng lại và mỉm cười nhưng ngay lập tức cậu bé chạy trốn. Lát
sau, cậu bé lại xuất hiện, đến gần cô hơn chút nữa. Một cái nháy mắt và cậu bé
lại bỏ chạy. Màn làm quen lặp đi lặp lại như vậy nhiều lần, cho đến khi cậu bé
đến sát bên Susan, cô nhìn cậu bé, không một cử động và im lặng. Dưới lớp cáu bẩn
dày đặc trên khuôn mặt cậu bé, cô nhận ra vẻ đẹp của tròng mắt với đôi mắt đen
huyền.

Cô chìa bàn tay về phía cậu bé, lòng bàn tay hướng lên trời. Đôi mắt cậu nhỏ lưỡng
lự hết về hướng về phía gương mặt cô rồi lại nhìn vào bàn tay cô, và những ngón
tay cậu rụt rè khẽ bám vào ngón nhỏ bé đang muốn kéo cô đi. Susan đứng dậy và để
mặc cho cậu bé dắt cô băng qua những lối đi hẹp ngăn cách giữa những ngôi nhà.
Cậu bé dừng lại sau một bức vách và đặt một ngón tay lên miệng ra hiệu cho cô
không gây tiếng ồn và để cô quỳ gối xuống ngang chiều cao của cậu.Cậu bé chỉ một
lỗ hổng trên tấm liếp đan bằng sậy, ghé một mắt nhìn vào để cô bắt chước làm
theo. Cậu bé vừa lùi ra sau, Susan lập tức bước tới nhìn xem cái gì đã có thể
khiến cậu bé này có đủ chừng ấy sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi để dẫn cô đến tận
đây.

…Em nhìn thấy một bé gái chừng năm tuổi đang chết dần, chân của em đã bị hoại
thư quá nặng. Trong khi một bộ phận dân làng đang bị cuốn đi trong dòng thác
bùn, một người đàn ông may mắn bám được vào thân cây, và trong khi đang tìm kiếm
một cách tuyệt vọng đứa con gái nhỏ vừa mất tích, ông đã nhìn thấy một cánh tay
nhô lên từ dòng thác. Giành lại được đứa trẻ từ tay của thần chết, ông ôm chặt
lấy cơ thể bé nhỏ trong lòng. Hai người đã băng qua hàng cây số trong bóng tối,
cố gắng để đứng vững trên đôi chân trong tiếng gào thét đến điếc tai của những
cơn gió xoáy đang chỉ chực nuốt chửng lấy họ. Họ cứ đi cho đến khi kiệt sức và
ngã xuống bất tỉnh. Khi trời sáng, người đàn ông tỉnh dậy, bé gái nằm cạnh ông.
Họ bị thương nhưng đã sống sót. Chỉ có một khác biệt duy nhất: cô bé mà ông cứu
sống không phải là con gái của ông. Ông đã không thể tìm lại được xác của con
gái.
Sau một đêm thương thảo dằng dai, cuối cùng người đàn ông đã chấp nhận giao cô
bé cho chúng em, em không chắc cô bé có sống sót được sau chặng đường dài không,
nhưng nếu ở lại trên đó, cô bé sẽ chỉ còn sống được thêm vài ngày nữa. Em đã hứa
với người đàn ông ấy là sẽ quay trở lại sau một, hai tháng nữa, mang theo một
xe tải đầy lương thực. Nhờ thế ông ấy đã chấp nhận hi sinh, chắc hẳn vì nghĩ đến
những người dân khác trong làng. Dù lý do của em là chính đáng, em vẫn cảm thấy
mình thật là xấu xa trong ánh mắt của ông. Em về đến San Pedro, bé gái vẫn đang
ở ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, em thì hoàn toàn kiệt sức. Để
anh biết mà tiện đường ứng xử, Juan là trợ lí của em. Cái câu nói đầy ẩn ý của
anh mới ngớ ngẩn làm sao! Em có phải đang ở trại hè nghỉ mát bên Canada đâu!!!
Dù sao em vẫn hôn anh.

Susan.

TB: Vì anh và em đã thề luôn luôn nói ra sự thật giữa hai chúng ta, em phải thú
thật với anh một điều: anh và cái thành phố New York của anh làm em phát ngán với
câu chuyện về những người vô gia cư mà anh kể!

Chú thích:

(1): tiếng Tây Ban Nha trong nguyên bản, có nghĩa là “Quý cô da trắng”.

(2): một đảng phái chính trị tại Nica ra gua, tạo nên một cuộc cách mạng tại nước
này vào những năm 1979.

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+