Trang chủ » Thế giới truyện » Tiểu thuyết tình yêu

Jane Eyre – Charlotte Bronte – Chương 05+06 

Đăng ngày 13/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương 5

MỘT BÀI HỌC HÓC BÚA 

Học kỳ một của tôi ở Lowood trôi qua như dài một thế hệ .Tôi hết sức khó khăn trong việc làm quen với những luật lệ mới và những bài học, nhưng nỗi lo sợ thất bại triền miên của tôi cứ làm tôi lo lắng nhiều hơn cả công việc nhọc nhằn hằng ngày. 

Suốt tháng giêng, tháng hai và một phần tháng ba, lớp tuyết dày đã giữ chúng tôi ở trong khuôn viên nhà trường, trừ khi chúng tôi đi nhà thờ.Nhưng hằng ngày, chúng tôi phải trải qua một giờ ở ngoài trời và áo quần chúng tôi không đủ ấm để chống chọi với cái rét ghê hồn. Tuyết lọt vào trong giày của chúng tôi, tan ra, cả bàn chân , bàn tay đầy những chỗ sưng nhức nhối. 

Tôi nhớ qúa rõ nỗi đau đớn và giận dữ tôi đã chịu đựng mỗi tối khi hai bàn chân mình bị sưng tấy lên và sự khốn khổ phải chuồi mấy ngón chân sưng nhức vào giày mỗi buổi sáng. Rồi thì sự thiếu ăn là một nỗi khổ triền miên, và việc này lại phát sinh ra cái tệ nạn bọn con gái lớn dụ dỗ , dọa dẫm bọn nhỏ sớt bớt phần ăn cho chúng, mặc dù khẩu phần của chúng đã ít ỏi. Nhiều lần tôi đã chứng kiến mẩu bánh mì qúy giá của tôi được chia cho hai đứa lớn, một nửa bình cà phê đứa thứ ba uống, tôi chỉ ăn chút ít còn lại, và chỉ biết khóc thầm mà thôi. 

Chủ nhật là những ngày buồn thảm vào mùa đông. Chúng tôi phải đi bộ hai dặm đường để đến nhà thờ Brocklebridge, ở đây người bảo trợ chúng tôi là một mục sư.Chúng tôi bước ra là thấy lạnh, đến nhà thờ càng lạnh hơn sau khi đã đi bộ trên tuyết, và hầu như bị tê cóng vì lạnh suốt thời gian dài làm lễ. 
Đường đi qúa xa nên không thể về đúng giữa trưa để ăn, cho nên chúng tôi phải ăn thịt và bánh mì nguội đợi đến bữa ăn chiều. 
Xế chiều, chúng tôi phải đi bộ về trường trên con đường đồi lạnh lẽo. Tôi cứ nhớ cô Temple, áo choàng bị gió lạnh đánh phần phật, đi nhanh nhẹn giữa đoàn nữ sinh đang lom khom bước, cô cố động viên chúng tôi giữ vững tinh thần. Các giáo viên khác, thật khốn khổ, lại đi sát vào nhau để vui chân. 
Chúng tôi mơ ước biết bao ánh sáng và hơi ấm của lò lửa bập bùng khi trở về! Nhưng điều này thật khó cho học sinh nhỏ, vì mỗi lò sưởi đều có các cô lớn ngồi quanh hai hàng rồi. 

Một buổi chiều khi tôi đã ở Lowood được ba tuần , tôi đang ngồi với cái bảng đen trên tay, đang bối rối trước một bài toán chia dài thì tôi chợt thấy một bóng người đi ngang ngoài cửa sổ. Đó là ông Brocklehurst. Phút chốc , ông đã vào trong phòng học, đứng bên cạnh cô Temple, cũng cái dáng người cao ấy đã nghiêng người lên tôi ở Gateshead. 

Tôi có lý do riêng để sợ chuyến đến viếng thăm này. Tôi sợ bất kỳ một phát hiện nào về qúa khứ của tôi trong trường hợp ông tố cáo tôi là một đứa trẻ xấu. Hình như tôi nghe được chuyện ông đang nói với cô Temple( cô đang ngồi ở gần cửa lớn), cho nên thoạt tiên tôi thấy yên ổn phần nào. 
Ông Brocklehurst nói: 
– Cô Temple à, khi tôi đến đây vừa rồi, tôi đã ra vườn sau và xem xét áo quần đang phơi trên dây. Nhiều đôi bít tất đen ở trong tình trạng tồi tệ khó chữa, do các lỗ thủng khá lớn , tôi e rằng chúng không cách gì vá mạng lại được. 
Ông dừng lại. Cô Temple trả lời: 
– Thưa ngài, chúng sẽ được điều chỉnh lại. 
Ông Brocklehurst tiếp: 
– Có điều khác nữa khiến tôi ngạc nhiên là khi coi lại sổ sách kế toán của quản gia, tôi thấy có một bữa ăn bánh mì và phó mát đã được dọn thêm lần thứ hai cho các cháu cách đây hai tuần. Ai cho phép làm việc này và ai ra lệnh vậy? 
Cô Temple đáp: 
– Thưa ngài, tôi xin chịu trách nhiệm việc này. Cháo nấu qúa cháy , các em không thể ăn được. 
– Xin cô nghe cho. Cô biết là kế hoạch của tôi là làm cho những đứa nhỏ này biết kham khổ và biết kiên nhẫn, tự chế – không khuyến khích chúng sống xa hoa và tự mãn. Một sự nản chí nhỏ nhặt nào, như là làm hỏng một bữa ăn, đều là cơ hội để chúng ta giáo dục tinh thần cho chúng, dạy chúng có nghị lực để chống chọi với gian khổ. Ôi, thưa cô, khi cô cho chúng ăn bánh mì và pho- mát thay cho cháo cháy, thì cô đã nuôi nấng cái cơ thể khốn khổ của chúng, nhưng cô ít nghĩ đến việc cô đã bỏ đói linh hồn bất diệt của chúng cho đến chết! 
Ông Brocklehurst lại ngưng nói , có lẽ vì ông qúa xúc động. Cô Temple nhìn thẳng trước mặt , môi cô mím chặt , mắt nghiêm nghị 
Bỗng ông Brocklehurst tiếp tục, lần này ông nói nhanh: 
– Này cô Temple, sao, sao cháu kia lại được phép uốn tóc? Cô tóc đỏ ấy, tóc uốn lên phải không? – ông hỏi. 
Tay ông run rẩy khi chỉ cô gái. 
Rất bình tĩnh , cô Temple đáp: 
– Cháu ấy là Julia Severn. 
– Julia Severn à? Tại sao ở trong nhà từ thiện này cháu ấy lại được phép để tóc quăn như vậy? 
Cô Temple đáp: 
– Tóc của cháu ấy quăn tự nhiên đấy ạ. 
– Tự nhiên à? ở đây chúng ta không nên khuyến khích tự nhiên! Tôi thích tóc giản dị bình thường. Tóc như thế phải cắt bỏ hết! Ngày mai tôi sẽ cho một người thợ hớt tóc đến đây. Tôi còn thấy có nhiều cô để tóc dài qúa. Cô hãy cho các em lớn đứng dậy và quay mặt vào tường đi. 
Cô Temple lấy khăn đưa lên môi. Nhưng rồi cô cũng ra lệnh, và lớp một tuân theo cô.Tất cả nghe một giọng nói quyết định: 
– Tất cả những cái nơ và bím tóc phải cắt hết. 
Cô Temple quay lại phản đối, ông Brocklehurst lại nói tiếp: 
– Thưa cô, bổn phận của tôi là phải dạy cho các cô gái này biết quên mình , biết ăn mặc thô sơ giản dị. Những cái bím tóc này đã mất công bện hết sức cầu kỳ! Cô hãy nghĩ đến việc phí thì giờ. 
Đến đây thì có ba phụ nữ bước vào cắt ngang câu nói của ông. Họ mặc áo quần hết sức lộng lẫy bằng nhung, lụa và lông thú. Hai cô gái còn trẻ khoảng mười sáu hay mười bảy tuổi, tóc họ xõa gợn sóng xinh đẹp dưới chiếc nón màu xám hợp thời trang, được uốn cong lên, chải chuốt kỹ càng. Bà lớn tuổi mặc áo nhung có may xen kẽ lông chồn, tóc cũng uốn cong xõa ngang trán. Cô Temple chào họ vì nhiệm vụ. Đó là bà Brocklehurst và hai cô con gái của bà ta. 
Cho đến lúc ấy tôi mải nghe câu chuyện với cái bảng đen che trước mặt, như là tôi đang bận làm toán. Có thể tôi vẫn không bị chú ý đến, nhưng tấm bảng bỗng trượt khỏi tay tôi và rơi xuống nền nhà vỡ vụn, gây nên tiếng ồn khiến mọi người quay lại nhìn tôi. 
Tôi biết thế là hết, tôi cúi xuống nhặt những mảnh vụn, và chờ đón điều tệ hại nhất xảy đến. Nó đến thật. 
Ông Brocklehurst mắng: 
– Đồ bất cẩn! học sinh mới phải không? 
Không thoát được. Ông ta nói tiếp: 
– Tôi nhớ ra rồi, tôi đã nói chuyện với cô bé này. Cho đứa bé làm bể cái bảng ra đứng phía trước đi. 
Tôi điếng người. Tôi không nhúc nhích, nhưng hai học sinh lớn đã đẩy tôi tới trước mặt vị quan tòa đáng sợ ấy, và cô Temple nhẹ nhàng giúp tôi bước tới vừa nói nhỏ với tôi: 
– Đừng sợ Jane. Cô thấy đây chỉ là việc rủi ro, em sẽ không bị phạt đâu.Tôi nghĩ:” Cô sẽ khinh mình khi cô nghe mình là một con nói láo độc địa”. Thế rồi tôi bỗng qúa căm thù gia đình Brocklehurst và Reed. 
Ông Brocklehurst chỉ một cái ghế rất cao , bảo: 
– Lấy cái ghế ấy và cho nó đứng lên trên.Không biết ai đã để tôi đứng lên trên ấy. Tôi chỉ biết bây giờ mình cao ngang mũi ông Brocklehurst, và ông chỉ cách tôi một tấc. Ông quay qua phía vợ con ông và nói: 
– Các bà, cô Temple, các cô và các em, tất cả qúy vị trông thấy cô bé này chứ? 
Dĩ nhiên là họ thấy. Tôi cảm thấy họ đang đổ dồn mắt hau háu nhìn tôi như bóc trần tôi ra, và tôi đứng đó, cao hơn họ. 
– Qúy vị thấy cô ta còn nhỏ. Nhưng thật là buồn vì nhiệm vụ mà tôi báo cho qúy vị biết, cô gái này không đứng trong hàng ngũ của Chúa, mà chỉ là một kẻ xa lạ trong đám con chiên của Ngài. Qúy vị phải coi chừng nó, không chơi, không chuyện trò với nó.Thưa các cô, các cô phải canh chừng nó. Phải để ý đến mọi hành động của nó và sẵn sàng trừng phạt thể xác nó để cứu rỗi linh hồn nó. Bởi vì cô gái này – đứa bé xuất thân từ một nơi qúy tộc – là …một kẻ nói láo! 
Ông ngừng nói một lúc khá lâu, tôi nghe cô Brocklehurst nhỏ thì thào:”Ghê qúa!”. 
Ong Brocklehurst lại nói tiếp: 
– Tôi biết được chuyện này là do một bà rất tốt đã nhận đứa bé mồ côi này và nuôi nấng nó cùng với các con ruột của mình – lòng từ tâm của bà đã được trả bằng sự vô ơn hèn hạ, một sự vô ơn hết sức hèn hạ , đến nỗi bà buộc phải tách nó ra khỏi các con mình để các hành vi bỉ ổi của nó khỏi gây ảnh hưởng xấu đến sự trong trắng của chúng. Bây giờ nó được gởi đến đây để sửa chữa lỗi lầm như người Do Thái xưa kia đã gửi bệnh nhân đến hồ Bethesda để chữa bệnh. Thưa qúy cô, tôi xin qúy cô xem đứa bé này cần được chữa bệnh bằng nước sạch của trường này. 
Ông Brocklehurst cúi chào cô temple , gài nút áo rồi quay ra cửa, theo sau là vợ và con ông. Ông nói: 
– Để nó đứng đấy trên nửa giờ, và đừng ai nói chuyện với nó trong suốt ngày hôm nay. 
Thế là tôi đứng đấy cho mọi người thấy trong căn phòng lớn. Không có lời lẽ nào để miêu tả hết được tình cảm của tôi.Thế rồi khi tất cả đứng dậy, có một cô bé đi ngang gần tôi, cô ngước mắt nhìn tôi. cái nhìn lạ lùng làm sao! Nhìn mắt cô, một nghị lực mới trỗi dậy trong lòng tôi. Tôi giữ nước mắt khỏi chảy, ngẩng cao đầu, và đứng thẳng trên chiếc ghế cao. Helen Burns hỏi cô Smith cái gì đấy về công việc, khi quay về chỗ ngồi, đi ngang qua tôi, cô mỉm cười với tôi. 
Nụ cười qúy hóa làm sao! Bây giờ tôi vẫn còn nhớ đến nụ cười ấy, vì đó là dấu hiệu của lòng can đảm thực sự và một tư cách tuyệt đẹp. Nụ cười làm sáng khuôn mặt thanh tú vá đôi mắt sâu của cô, ánh sáng thật hiếm trong cõi đời này. Thế mà tôi lại được biết cô Scatcherd đã phạt cô ngày hôm sau chỉ được ăn bánh mì với nước lã, bởi vì cô đã làm dơ một bài tập.

 

***

Chương 6

CÔ TEMPLE

Khi đồng hồ đánh báo năm giờ, cả trường đều nghỉ và tất cả các cô gái đều đi uống trà. Tôi đánh liều bước xuống khỏi ghế. Trời đã tối, tôi đi đến một góc xa và ngồi xuống trên nền nhà. Sau cùng thì nghị lực của tôi cũng suy giảm, tôi nằm xuống đó vô cùng buồn rầu. 

Helen Burns không có ở đó, không ai giúp đỡ, tôi mặc cho nước mắt tuôn trào. Tôi đã cố học hành tốt, làm việc tốt ở Lowood, kết bạn nhiều, được nể vì , được thương yêu. Mới sáng nay thôi, tôi đã đứng đầu lớp và cô Miller đã khen tôi. Có cả cô Temple đứng đấy mỉm cười xác nhận, cô lại còn hứa dạy tôi học vẽ và còn hứa sau này sẽ cho tôi học tiếng Pháp nữa. Bây giờ tôi đang nằm đây, đau đớn và thất bại – làm sao tôi có thể đứng lên được nữa? Tôi nghĩ: “Không bao giờ”, và trong lúc thất vọng, tôi ao ước mình chết đi cho khỏe. 

Thế rồi tôi vùng dậy, bởi vì Helen Burns đang ở bên tôi. Qua ánh sáng lờ mờ nhờ lửa trong lò sưởi của lớp học, tôi thấy cô mang cà phê và bánh mì đến cho tôi. Cô bảo: 
– Này , ăn đi. 
Nhưng tôi đẩy đi và khóc to hơn. Helen ngồi xuống nền nhà cạnh tôi, hai tay ôm lấy đầu gối, ngồi yên lặng , tựa đầu lên hai cánh tay 
Tôi lên tiếng trước: 
– Helen, sao bạn lại chịu ngồi gần một đứa mà mọi người tin là nói dối? 
– Mọi người à, Jane? Bạn lầm rồi. Mình chắc là phần nhiều đều lấy làm buồn cho bạn đấy. 
– Tại sao lại lấy làm buồn cho mình , sau khi nghe ông Brocklehurst nói như thế? 
– Ông Brocklehurst không phải là Chúa Trời, ở đây chẳng ai ưa ông ta hết. Nếu ông ấy đối xử với bồ đặc biệt ưu ái , thì bồ sẽ có nhiều kẻ thù đấy.Không, các cô gái caó thể thờ ơ với bồ trong một chốc lát, nhưng họ đều có cảm tình với bồ. Nếu bồ biết kiên nhẫn và hành động đúng đắn, tất cả sẽ bị lãng quên ngay. Vả lại , Jane à, cô ngừng lại. 
Tôi hỏi: 
– Sao, Helen? 
Tôi đặt mấy ngón tay lên áo cô ta. Cô thoa nhẹ bàn tay tôi cho ấm. Helen bảo: 
– Cho dù mọi người có ghét bạn và tin bạn là kẻ ác độc, mà nếu lương tâm bạn chân thật, không tội lỗi thì bạn vẫn luôn có bạn. 
Tôi đồng ý: 
– Đúng thế, nhưng chưa đủ, Helen ạ. Mình không chịu được cô đơn và bị ghét bỏ. Nếu kẻ khác không thương yêu mình, mình thà chết còn hơn. 
– Này Jane! bạn nghĩ nhiếu qúa về tình thương của loài người. Bạn qúa phật ý về điều đó. Chúa đã tạo nên cơ thể yếu đuối của chúng ta, rồi cho sự sống vào đấy, Ngài cho chúng ta nghị lực khi cần. Ngoài trái đất và nhân loại ra, còn có một thế giới vô hình của thần linh bất tử. Mình biết bạn vô tội trong việc ông Brocklehurst đặt điều cho bạn, bởi vì mình thấy được thực chất trong đơi mắt chân thật của bạn. Hãy nhớ là Chúa biết hết sự thực và Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta khi hết đời. 
Tôi ngồi yên. Helen dỗ dành tôi, nhưng có một nỗi buồn kỳ lạ đằng sau mỗi lời nói của cô. Khi cô nói xong, cô thở nhanh và ho, đến nỗi tôi quên hết nỗi buồn của mình và lo lắng cho bạn. Khi Helen kéo tôi lại gần cô, tôi dựa đầu mình vào vai cô, quàng tay quanh hông cô. Và chúng tôi ngồi yên bên nhau. 

Chúng tôi ngồi yên như vậy một hồi, rồi có tiếng chân người vào phòng. Đó là cô Temple, cô nói: 
– Cô có ý tìm em đây, Jane Eyre à! Cô muốn em đến phòng cô, và nhân tiện có Helen Burns đây, em có thể đến luôn. 

Chúng tôi đi theo cô hiệu trưởng qua nhiều hành lang , rồi lên một thang lầu và đến phòng của cô. Một lò lửa đang cháy, chiếu sáng những đồ đạc chung quanh, trông vô cùng tươi tắn. Cô Temple bảo Helen ngồi trên một chiếc ghế bành gần lò sưởi, cô ngồi vào một chiếc ghế khác và kéo tôi đến gần cô. Cô nhìn mặt tôi rồi hỏi: 
– Em khóc cho nhẹ bớt nỗi sầu , phải không? 
Tôi đáp: 
– Em sợ không bao giờ được như vậy. 
– Tại sao? 
– Bởi vì em đã bị oan , và cô và mọi người chắc chắn sẽ cho em là đồ ác độc. 
– Tất cả sẽ đánh giá em qua hành động của em.Em cứ tiếp tục làm điều tốt. 
Cô quàng tay ôm lấy tôi: 
– Bây giờ em cho cô biết về cái bà đã nuôi nấng em. 
– Đó là bàReed, mợ của em. Cậu em mất và giao em cho bà ấy chăm sóc. 
– Thế bà không bằng lòng nhận nuôi em à? 
– Dạ không , bà bực mình vì phải làm điều đó. Nhưng em thường nghe gia nhân nói rằng, cậu em trước khi mất đã yêu cầu bà hứa nuôi em, bà hứa bà sẽ nuôi nấng em mãi mãi. 
– Này Jane, khi ông ta buộc tội ai, ông đã đề phòng khi nói. Em bị buộc là kẻ nói dối. Em cũng phải đề phòng. Cho nên em hãy nói cái gì có thật mà em nhớ. Đừng thêm thắt, đừng phóng đại cái gì hết. 
Tôi trình bày vô tư chính xác . Tôi kể cho cô nghe tất cả chuyện thời thơ ấu của tôi, cứ để ý lời dặn của Helen đừng nóng giận, và khi tôi tiếp tục kể, tôi cảm thấy cô Temple hoàn toàn tin tôi. Trong câu chuyện tôi kể cho cô nghe, tôi có nhắc đến lần thăm viếng của ông Lloyd, bởi vì tôi không bao giờ quên được cái ngày kinh khủng ấy trong phòng đỏ, cũng không bao giờ quên được trận ốm sau đó. 
Khi tôi kể xong, cô Temple yên lặng nhìn tôi ít phút.Rồi cô nói: 
– Cô biết ông Lloyd. Cô sẽ viết thư cho ông ấy, và nếu ông trả lời như em kể , em sẽ được sáng tỏ trước mọi người. Còn đối với cô thì, Jane à, chuyện em đã sáng tỏ rồi 
Cô hôn tôi, và trong lúc vẫn giữ tôi bên mình, cô nói với Helen: 
– Helen, đêm nay em có khá không? Hôm nay em ho nhiều , phải không? 
– Theo em thì không nhiều lắm, thưa cô. 
– Ngực em đau ra sao? 
– Có đỡ chút đỉnh, cám ơn cô. 
Cô Temple đứng dậy, nắm tay Helen và bắt mạch cho nó. Rồi cô trở lại chỗ ngồi và tôi nghe cô khẽ thở dài khi ngồi xuống. Bỗng cô vụt đứng dậy, rồi vui vẻ nói: 
– Đêm nay hai em là khách của cô và cô phải đối xử với hai em như khách vậy. 
Cô rung chuông, một gia nhân bước vào, cô bảo: 
– Barbara, tôi chưa uống trà, chị mang khay đến cho tôi và thêm tách cho hai cô đây nhé. 
Chị gia nhân mang đến ngay một khay trà. Đồ sứ trông xinh xắn làm sao!Tất cả xếp trên một bàn tròn cạnh lò sưởi.Trà thơm ngát, mùi bánh mì nướng ngon lành biết bao! Nhưng tôi thấy lo vì bánh ít qúa(vì tôi rất đói). Cô Temple cũng thấy vậy. Cho nên cô lại bảo: 
– Này chị Babara, chị mang thêm bánh mì và bơ nữa chứ, chừng này không đủ cho ba người đâu. 
Người tớ gái bước ra, nhưng chị lại quày qủa trở lại. Chị nói: 
– Dạ thưa cô, bà Harden bảo đã đưa đủ số bánh như thường lệ đấy ạ. 
bà Harden là quản gia , người đắc ý của ông Brocklehurst. Bà ta được lệnh phải cứng rắn mọi mặt. 
Cô temple đáp: 
– ồ, tốt lắm, chúng ta phải lo lấy thôi. 
Khi người tớ gái đã đi khỏi , cô mỉm cười nói thêm: 
– Mau thay là lần này cô có thể bù vào chỗ thiếu 
Cô mời helen và tôi đến một cái bàn, đặt trước mặt tôi mỗi người một tách trà và một miếng bánh mì nướng ngon lành. Rồi cô đứng lên, mở tủ chè, lấy ra một gói giấy. Chúng tôi thấy, đó là một cái bánh lớn. Cô bảo: 
– Cô định cho các em cái này đem về phòng mà ăn, nhưng vì bánh mì nướng qúa ít, cho nên các em phải dùng nó bây giờ.
Cô cắt bánh thành từng lát, bàn tay dịu dàng, chúng tôi thì ngồi ở bàn. 

Đêm đó, chúng tôi dự một bữa tiệc thịnh soạn, khi chiếc khay dọn đi, chúng tôi ngồi bên lò sưởi, và tôi cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc. 
Rồi câu chuyện giữa cô Temple và Helen đã làm tôi hết sức ngạc nhiên và kính nể. Helen hình như đã biến đổi hẳn. Bữa ăn ngon lành, ngọn lửa sáng ấm, lòng tốt của cô giáo thân yêu- có cái gì đó độc đáo trong người cô- đã khơi dậy sức mạnh vô biên nơi Helen Burns. Khuôn mặt của cô ta sáng ngời đẹp đẽ mà trước đây tôi chưa từng thấy bao giờ. 
Một cô gái mười bốn tuổi như Helen mà đã có đủ kiến thức để nói năng trôi chảy và trong sáng như thế ư?Đối với tôi, vào cái đêm đáng nhớ ấy, Helen đã sống đời sống tinh thần trong một giờ, bằng nhiều người trong một kiếp. 
Họ nói về nhiều chuyện mà tôi chưa hề được nghe như về nhiều quốc gia, về nhiều nơi xa xôi, về bí mật của thiên nhiên về nhiều sách. Học đọc nhiều biết bao! Họ hiểu rộng và biết nhiều qúa! Họ quen thuộc nhiều tác phẩm và tác gỉa nước Pháp. Và tôi đã kinh ngạc vô cùng khi cô Temple hỏi Helen còn nhớ tiếng Latinh mà ba cô đã dạy cho không – rồi Helen lấy một cuốn sách của Virgil ở trên kệ sách. Cô đọc và dịch một trang cho chúng tôi nghe. Cô còn đọc tiếp thì bỗng chuông reo báo giờ đi ngủ, và chúng tôi đành phải giã từ cô . 
Cô Temple ôm hôn chúng tôi. Cô bảo: 
– Các em thân mến, cầu Chúa ban ơn cho các em. 
Cô ôm hôn Helen lâu hơn tôi. Cô có vẻ miễn cưỡng để cho Helen đi và nhìn theo cô ta đến cửa. Cũng vì Helen mà cô đã thở dài sau lưng chúng tôi. 
Về đến phòng ngủ, chúng tôi nghe giọng cô Scatcherd trong phòng. Cô ta đang khám tủ và kệ sách của chúng tôi. Vừa đi vào, Helen đã bị quở trách về tội thiếu ngăn nắp. Sáng hôm sau, cô scacherd buộc một miếng giấy dày quanh đầu Helen, có ghi hàng chữ lớn” Đồ ăn mặc cẩu thả”. tôi thấy Helen rất nhẫn nại. Cô không giận, xem đó như là một hình phạt xứng đáng. 
Đúng lúc cô scatcherd hết giờ dạy buổi chiều, tôi chạy đến Helen, xé nát tờ giấy và ném vào lửa.Thấy bạn âm thầm chịu đựng, cơn giận nung nấu trong lòng tôi suốt ngày hôm ấy , bởi vì cái cảnh bạn cam chịu buồn phiền đã làm tôi đau đớn không chịu được. 

Khoảng một tuần sau, cô Temple nhận được thư trả lời của ông lloyd. Ông xác nhận rõ ràng câu chuyện của tôi. Vào một buổi họp toàn trường, cô tuyên bố cô đã điều tra về lời buộc tội Jane Eyre. cô nói rằng cô sung sướng đã làm sáng tỏ vấn đề là tôi vô tội. Việc này đã cất đi cả một gánh nặng trong tâm trí tôi, và tôi định tâm để học hành trở lại, quyết làm tốt công việc hằng ngày. 

Công sức của tôi đã có hiệu qủa. Trí nhớ của tôi khá lên , trí thông minh phát triển, cho nên chỉ trong mấy tuần, tôi lên được lớp cao hơn.Chưa đầy hai tháng tôi được phép bắt đầu học tiếng Pháp và học vẽ 

Cái hôm mà tôi vẽ căn nhà lá đầu tiên của mình, tối đó đi ngủ tôi đã tưởng tượng tranh của tôi được đón nhận huy hoàng trong tương lai. Tôi không còn mơ đến khoai tây chiên nóng và thực phẩm ngon lành khác, như tôi từng mơ ước trước đây , mà thưởng thức những họa phẩm hoàn hảo qua tưởng tượng trong đêm tối: nhà cửa, cây cối, núi đá và các cảnh tàn phá; những bức tranh bướm vờn hoa; chim chóc líu lo giữa những trái anh đào chín muồi, tổ của chúng với những qủa trứng đẹp như ngọc trai, chúng luồn lách nhảy nhót trong đám lá trường sinh, cho đến khi tôi đi vào giấc ngủ êm ái dịu dàng. 
Salomon đã nói một cách khôn ngoan rằng:” Thà ăn rau mà thương yêu nhau còn hơn ăn thịt mà thù ghét nhau”. 
Bây giờ thì tôi không muốn đánh đổi Lowood với nhiều khó khăn gian khổ, để lấy Gateshead hall với cuộc sống xa hoa khắc nghiệt hằng ngày.

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+