Trang chủ » Thế giới truyện » Kinh tế

Nếu Tôi Biết Được Khi Còn 20 – Chương 02-01 

Đăng ngày 13/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Chương 2 – Rạp xiếc đảo lộn

Tại sao hầu hết chúng ta lại không xem khó khăn là các cơ hội
trong cuộc sống hàng ngày? Tại sao những nhóm tham gia các dự án được kể ở
chương trước phải đợi đến các bài tập này mới có thể mở rộng các giới hạn của
trí tưởng tượng của họ? Về cơ bản, chúng ta không được dạy để nắm lấy các khó
khăn. Chúng ta được dạy rằng các khó khăn là những thứ cần phải tránh hoặc là
những điều dể phàn nàn. Trong một buổi diễn thuyết ở một hội thảo dành cho
những nhà quản lý kinh doanh, tôi đã giới thiệu những đoạn phim từ Cuộc thi
Sáng tạo. Chiều hôm đó một C E O của một công ty đã tìm gặp tôi và than thở
rằng anh ta ước được quay trở lại trường vì ở đó anh ta được trao cho những vấn
đề mở và được thử thách sức sáng tạo. Tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe về những
điều này. Tôi khá chắc chắn rằng mỗi ngày anh ta đều phải đối mặt với những thử
thách bên ngoài cuộc sống, những thứ sẽ cần đến tư duy sáng tạo. Không may anh
ta đã không nhận ra dễ dàng sự liên quan giữa các ý tưởng đó với cuộc sống và
công việc của mình. Anh ta xem các bài tập của tôi là những gì chỉ có thể xảy
ra trong một môi trường học thuật và được kiểm soát. Dĩ nhiên nó không phải là
không nên như thế chút nào.

Mỗi ngày chúng ta đều có thể thử thách chính mình. Đó là việc lựa chọn
quan sát thế giới xung quanh với nhiều lăng kính khác mà qua những lăng kính đó
chúng ta có thể hiểu được vấn đề dưới luồng ánh sáng mới. Càng sẵn sàng đối
diện với vấn đề bao nhiêu thì chúng ta càng tự tin và thuần thục bấy nhiêu
trong việc giải quyết chúng; và hơn thế nữa, chúng ta sẽ càng dễ dàng nhìn nhận
chúng như những cơ hội đến với mình.

Thái độ có lẽ là yếu tố quyết định lớn nhất cho những gì chúng ta
có thể đạt được. Những người thực sự có tư tưởng cải cách luôn đối mặt trực
tiếp với vấn đề và làm cho người ta suy nghĩ về những quan điểm truyền thống
theo một cách hoàn toàn khác. Một ví dụ tuyệt vời để minh chứng cho điều này là
Jeff Hawkins, người đã cách mạng hóa cách thức con người tổ chức cuộc sống của
mình với Palm Pilot. Jeff bị cuốn hút vào vấn đề tạo ra những máy tính cá nhân
nhỏ dễ dàng sử dụng trong cộng đồng. Đây là một mục tiêu lớn, và Jeff đã phải
đối mặt với hàng loạt những khó khăn kéo theo sau đó. Trên thực tế ông cũng
thừa nhận rằng trở thành một chủ doanh nghiệp nghĩa là phải thường xuyên đối
mặt với những vấn đề lớn và phải tìm những cách sáng tạo để giải quyết chúng.

Vấn đề của Jeff xuất hiện ngay từ rất sớm. Khi Palm cho ra đời sản
phẩm đầu tiên của mình, chiếc Zoomer, nó đã thất bại thảm hại. Thay vì ra đi
trong thất bại, Jeff cùng những người cộng sự của mình đã mua những chiếc
Zoomer, cũng như những người đã mua chiếc máy tính đối thủ của Zoomer – chiếc
Apple Newton, để hỏi về những gì họ mong muốn ở Zoomer. Các khách hàng cho biết
họ đã mong đợi sản phẩm này có thể sắp xếp được các kế hoạch làm việc phức tạp
của họ, và giúp tổng hợp các lịch làm việc thành một bản kế hoạch chung. Đó
chính là thời điểm Jeff nhận ra rằng chiếc Zoomer đã cạnh tranh với lịch để bàn
nhiều hơn là với những sản phẩm điện tử khác. Những phản hồi này trái với các
quan điểm ban đầu của Jeff và đã gây sửng sốt cho cả đội thực hiện. Và cũng
chính vì thế, chúng đã cung cấp nguồn thông tin quý giá cho việc thiết kế dòng
sản phẩm thế hệ sau của họ, chiếc máy tính Palm Pilot với những thành công rực
rỡ.

Dần dần Jeff và công ty của mình đã giải quyết được vấn đề khó
khăn nhất; đó là việc xác định cách người sử dụng sẽ nhập liệu vào chiếc máy
nhỏ thế hệ mới này như thế nào. Jeff cho rằng ngoài một bàn phím nhỏ, việc cho
phép người sử dụng dùng bút để nhập liệu là điều cực kỳ quan trọng, điểm đó các
chương trình nhận biết chữ viết tay chưa thể làm được việc này. Vì vậy Jeff và
các cộng sự đã tạo ra một ngôn ngữ viết mới có tên là Graffiti, một ngôn ngữ mà
máy tính có thể nhận dạng dễ dàng hơn. Lúc đó trong nội bộ công ty cũng có rất
nhiều ý kiến phản đối mạnh mẽ việc sử dụng một ngôn ngữ mới, nhưng Jeff tự tin
rằng khách hàng của họ sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian để làm những việc
khác vì thời gian ngồi trước máy tính chỉ còn rất ít. Graffiti là một cải cách
triệt để, thách thức mọi quy luật, và đã giải quyết được một vấn đề thực tế.

Jeff Hawkins là một ví dụ hoàn hảo về một người giải quyết vấn đề
luôn sẵn sàng quan sát thế giới với một cặp kính mới mẻ. Numenta, công ty mới
nhất của Jeff, được xây dựng trên cơ sở những lý thuyết mới nhất của ông về
cách bộ não hoạt động. Jeff đã bỏ ra nhiều năm trời nỗ lực tự học về thần kinh
nhằm hiểu được cách chúng ta suy nghĩ, và đưa ra một lý thuyết cấp tiến có tính
thuyết phục cao về quá trình xử lý thông tin của vỏ não, điều ông đã bàn đến
trong quyển On Intelligence (Trí thông minh nhân tạo – Nxb Trẻ). Có trong tay
những lý thuyết này, Jeff quyết định dùng các ý tưởng của mình làm cơ sở cho
việc tạo ra một thế hệ máy tính “thông minh hơn”, có thể xử lý thông tin như bộ
não con người. Đương nhiên sẽ có người lý luận rằng Jeff Hawkins là người có
một không hai, và không phải tất cả chúng ta đều có thể phát triển những lý
thuyết và phát minh mang tính cải cách như vậy. Nhưng dù sao cũng thật hữu ích
khi xem Jeff là một nguồn cảm hứng, là người chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng
các vấn đề đều có thể được giải quyết nếu người ta cho phép mình nhìn nhận
chúng dưới những góc độ khác nhau.

Tại sao tất cả chúng ta không tập trung vào những cơ hội xung
quanh mình và nắm bắt chúng? Một dự án trong Cuộc thi Sáng tạo lần thứ hai đã
khơi dậy ý tưởng này. Trong cuộc thi, thử thách dành cho những người tham gia
là tạo ra càng nhiều giá trị càng tốt với những chiếc vòng cao su. Một đội đã
hình thành ý tưởng về “Do Band” (Vòng đeo tay hành động). Đó là những chiếc
vòng đeo tay đơn giản động viên mọi người hãy làm những gì mình thường trì
hoãn. Do Band là một ý tưởng thông minh lấy cảm hứng từ những chiếc vòng cao su
quen thuộc ngày nay được mọi người đeo thể hiện sự đoàn kết về một lý tưởng nào
đó, như chiếc vòng Live Strong (Hãy sống mạnh mẽ) của Lance Amstrong chẳng hạn.
Các nguyên tắc hướng dẫn sử dụng Do Band như sau:

• Đeo chiếc vòng này quanh cổ tay bạn và hứa sẽ làm một điều gì
đó.

• Lấy nó ra khi bạn đã hoàn thành việc đó.

• Ghi nhận lại thành công của bạn trên trang web của Do Band. Mỗi
chiếc Do Band sẽ hiện ra cùng một con số in trên nó, nên bạn có thể tra cứu
được tất cả những hành động nó đã khơi nguồn cảm hứng.

• Gởi chiếc Do Band đến một ai đó.

Do Band đã tạo động lực cho người ta thực sự làm những gì họ muốn.
Trên thực tế Do Band chỉ là một chiếc vòng cao su mà thôi. Nhưng đôi khi một
thứ có vẻ đơn giản như chiếc vòng cao su nà lại là tất cả những gì cần thiết để
thúc đẩy người ta thực sự làm một điều gì đó, để lấp đầy khoảng trống giữa
“không hành động” và “hành động”. Chiến dịch Do Band chỉ kéo dài một vài ngày,
nhưng trong khoảng thời gian ngắn đó nó đã tạo cảm hứng cho một danh sách dài
các hành động: Có người gọi điện cho mẹ mình, có người bày tỏ lòng biết ơn của
mình đến người khác bằng những tấm thiệp cảm ơn, và cũng có người bắt đầu một
chương trình luyện tập thể dục thể thao mới. Một người tham gia chiến dịch đã
sử dụng chiếc Do Band để thúc đẩy một chương trình cắm trại hè, một người khác
thì cảm thấy được khích lệ cho việc liên hệ lại với những người bạn cũ dường
như đã mất liên lạc. Còn một số người khác đã quyên góp tiền của cho các tổ
chức từ thiện họ quan tâm. Thật tuyệt vời khi thấy rằng một chiếc vòng cao su
là tất cả những gì cần thiết để thúc đẩy người ta hành động. Nó cũng là một sự
nhắc nhở cho chúng ta rằng giữa việc không làm gì cả và làm điều gì đó chỉ cách
nhau một quyết tâm nhỏ, nhưng hai lựa chọn này có thể mang đến hai kết quả hoàn
toàn khác biệt.

Tôi sử dụng một ý tưởng tương tự vào giao cho các sinh viên một
thử thách đơn giản trong lớp, tạo điều kiện cho họ trải nghiệm việc nhìn nhận
những trở ngại trong cuộc sống dưới một góc nhìn mới. Tôi yêu cầu họ tìm ra một
vấn đề, đồng thời chọn một đối tượng ngẫu nhiên xung quanh môi trường sống của
mình. Sau đó họ phải tìm cách sử dụng đối tượng đó như thế nào để giúp giải
quyết vấn đề trên. Dĩ nhiên tôi không hề có ý niệm nào về các khó khăn của cá
nhân họ, về đối tượng họ sẽ chọn, hay chuyện giải quyết vấn đề của họ sẽ thành
công hay không. Thế nhưng trong đa số các trường hợp sinh viên đều tìm ra cách
vận dụng những đối tượng ngẫu nhiên xung quanh mình để giải quyết một vấn đề
dường như chẳng liên quan gì cả.

Tôi thích trường hợp chuyển nhà của một cô gái trẻ. Cô ấy phải di
dời các đồ gỗ lớn và không biết làm cách nào để làm được việc đó. Nếu cô gái
không thể dời các đồ gỗ đó thì cô phải để nó lại ở căn hộ cũ. Cô ấy nhìn quanh
căn hộ và thấy một thùng rượu còn sót lại sau một bữa tiệc cách đó vài tuần. À
há! Cô ấy đến craigslist®, một bảng thông cáo cộng đồng trực tuyến, và đề nghị
trao đổi thùng rượu với một chuyến chở hàng các đồ gỗ của mình qua Cầu Vịnh
(Bay Bridge). Chỉ trong một vài giờ toàn bộ số đồ gỗ của cô gái đều đã được di
chuyển đi. Chiếc thùng rượu bị bỏ sót đang bám bụi bỗng nhiên được biến thành một
loại tiền tệ có giá trị. Thực ra thì bài tập đã không biến rượu trở thành tiền
tệ, nhưng điều đó làm được là trao cho cô gái khả năng và động lực để nhìn nhận
nó như thế.

Không có một giới hạn nào cho độ lớn của các vấn đề bạn có thể
giải quyết. Thực chất đa phần các dự án trong Cuộc thi Sáng tạo đều có mục đích
tạo dựng “giá trị xã hội”. Các sinh viên sử dụng bài thi như một cơ hội để tiếp
cận một vấn đề xã hội quan trọng, ví dụ như tiết kiệm năng lượng, khuyến khích
mọi người sống khỏe mạnh, hay kêu gọi những giúp đỡ từ cộng đồng cho các trẻ em
khuyết tật.

Bước đầu tiên trong việc giải quyết các vấn đề lớn là nhận ra
chúng. Trong thế giới thiết kế sản phẩm, nó được gọi là “tìm kiếm nhu cầu”. Đây
là một kỹ năng có thể học hỏi được. Thực chất nó là bộ phận chính trong chương
trình học BioDesign Fellows (Thiết kế sinh học) ở trường Stanford[8] Những
nghiên cứu sinh đã học các ngành kỹ sư, y dược, và kinh doanh cùng gặp gỡ trong
một năm để tìm ra những nhu cầu cần thiết trong y học và sau đó thiết kế các sản
phẩm để đáp ứng những nhu cầu đó. Paul Yock, một bác sĩ chuyên khoa tim, nhà
phát minh, và là [9] doanh nhân, là người điều hành chương trình BioDessign.
Paul tin rằng “nhận biết được một nhu cầu cần thiết là A D N của một phát
minh.” Hay nói cách khác, nếu chúng ta xác định được một vấn đề rõ ràng, giải
pháp hợp lý sẽ tự xuất hiện.

Chương trình BioDesign Fellows dành ra ba tháng để quan sát công
việc của các bác sĩ và nhận diện những vấn đề dường như họ đang phải đối mặt.
Những người thực hiện chương trình quan sát rất kỹ lưỡng, đồng thời trao đổi
với tất cả những người liên quan, gồm có các bác sĩ, y tá, bệnh nhân, và những
người quản lý để nhận ra nên bắt đầu cải thiện vấn đề ở đâu. Sau đó họ chọn ra
một số trong hàng trăm nhu cầu tìm thấy, với mục tiêu nhận ra được vấn đề lớn
nhất cần được giải quyết. Sau khi nhận dạng được thử thách chính thức của mình,
họ bắt tay vào thiết kế và nhanh chóng xây dựng được những mẫu đầu tiên cho
hàng loạt các giải pháp. Và sau một tiến trình tập trung và lặp đi lặp lại, họ
trình bày các ý tưởng về sản phẩm mới của mình với những người liên quan chính
để xem thử mình có thực sự thành công trong việc đáp ứng nhu cầu này hay không.

Một điều thú vị là trong nhiều trường hợp, những người nắm giữ các
vị trí quan trọng nhất thường quá quen thuộc với các vấn đề họ gặp phải hàng
ngày, đến mức họ không thể nhận hay không hình dung được những cách tiếp cận
thực tế để giải quyết các vấn đề. Paul Yock chia sẻ một câu chuyện về sự phát
triển của phẫu thuật bong bóng (balloon angioplasty), một kỹ thuật dùng bong
bóng chèn vào một động mạch và bơm căng nó để nó mở rộng nơi động mạch bị tắc
nghẽn. Trước khi phát minh có tính đột phá này ra đời, hầu hết các bác sĩ
chuyên khoa tim đều cho rằng cách duy nhất để giải quyết sự tắc nghẽn động mạch
là làm phẫu thuật nối tắt động mạch vành (bypass surgecy) để cắt bỏ các mạch
máu bị hư tổn. Thủ thuật này đòi hỏi phẫu thuật mở tim, và nó chứa đựng nhiều
nguy cơ đáng kể. Khi phẫu thuật bong bóng – một thủ thuật ít nguy hiểm và ít
cắt mổ hơn – được giới thiệu lần đầu, nó gặp phải những hoài nghi và chống đối
dữ dội trong giới bác sĩ, đặc biệt là giới bác sĩ phẫu thuật được xem là những
người “hiểu rõ nhất” về cách chữa trị căn bệnh. Rất nhiều các trở ngại đáng kể
hiện ra trước mắt những người tiên phong về thủ thuật này. Chẳng hạn, John
Simpson, một trong những nhà phát minh ra thủ thuật phẫu thuật bong bóng, cuối
cùng phải rời trường đại học để đến nghiên cứu ở một bệnh viện tư. Tuy nhiên,
qua thời gian tính hiệu quả của phẫu thuật bong bóng đã được công nhận và trở
thành chuẩn mực trong chữa trị cho hầu hết các bệnh nhân bị tắc nghẽn động
mạch. Đây là một ví dụ tiêu biểu về một trường hợp mà các tư tưởng truyền thống
bám rễ quá chặt đến nỗi những người gần gũi nhất với tình huống đó cũng không
thể hình dung ra được điều gì khác biệt hơn.

Sự không nhận biết được vấn đề (problem blindness) cũng xuất hiện
ở ngành phát triển sản phẩm tiêu dùng. Một ví dụ điển hình ở đây là máy rút
tiền tự động ATM (automatic teller machine). Khi mới ra đời ATM đã không được hưởng
ứng mạnh mẽ trong các nhóm đối tượng mục tiêu của nó. Các nhóm khách hàng tiềm
năng này đã không hình dung được làm thế nào dùng một chiếc máy để gửi tiền và
rút tiền từ tài khoản thay vì đến ngân hàng địa phương để thực hiện các giao
dịch với một giao dịch viên. Ở thời điểm đó nhiều người đã không thể tưởng
tượng ra mình có thể thay đổi thói quen giao dịch với ngân hàng một cách đột
ngột như vậy. Thế nhưng, những chiếc máy ATM đã đại diện cho một sự cải tiến
hiệu quả và hoàn toàn mới mẻ cho việc giao dịch ngân hàng cá nhân, là một thứ
mà bây giờ hiếm ai trong chúng ta tưởng tượng được mình có thể sống thiếu nó.

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+