Trang chủ » Thế giới truyện » Văn học nước ngoài

Những Đứa Con Của Tự Do – Phần 3 – Chương 35 part 2 

Đăng ngày 12/6/2013 by admin

Xem toàn tập:
Ngày 7 tháng Tám
Hai mươi tám ngày đã trôi qua kể từ khi chúng
tôi bị giam giữ trong giáo đường. Claude, Charles, Jacques, François,
Marc và tôi tụ tập gần ban thờ.
Jacques đã trở lại thói quen kể cho chúng tôi các câu chuyện, để giết thời gian và những nỗi lo âu của chúng tôi. Marc hỏi:
– Có thật là anh em cậu chưa bao giờ vào một giáo đường Do Thái trước khi đếy?
Claude cúi đầu, như thể nó cảm thấy có lỗi. Tôi trả lời thay nó:
– Phải, đúng thế, đây là lần đầu tiên.
– Với một cái họ đặc Do Thái như họ của các cậu,
cũng lạ đấy. Cậu đừng cho tớ bảo thế là có ý chê trách nhé, Marc nói
lại ngay. Chỉ vì tớ nghĩ…
– Vậy thì cậu nhầm rồi, gia đình tớ không theo
các nghi thức giáo luật. Tất cả những người mang họ Dupont và Durand
không nhất thiết đến nhà thờ vào Chủ nhật.
– Nhà cậu không làm gì hết, ngay cả vào những dịp lễ trọng hay sao? Charles hỏi.
– Nếu anh muốn biết mọi điều thì, ngày thứ Sáu, cha em làm lễ sabbat 1.
– À ế, vậy ông làm gì? François tò mò hỏi.
– Không có gì hơn các buổi tối hkác, trừ việc
ông đọc một bài kinh bằng tiếng hébreu 2 và tất cả chúng tôi cùng uống
một cốc rượu vang.
– Một cốc duy nhất ư? François hỏi.
– Ừ, một cốc duy nhất.
Claude mỉm cười, tôi thấy nó thú vị vì câu chuyện của tôi. Nó lấy khuỷu tay hích tôi.
– Nào, anh kể chuyện cho các anh ấy nghe đi, rốt cuộc có quy định mà.
– Chuyện gì cơ? Jacques hỏi.
– Có gì đâu!
Các bạn, thèm khát những câu chuyện do nỗi buồn chán không rời họ từ gần một tháng nay, đồng thanh nài nỉ.
– Thế thì, mỗi ngày thứ Sáu lúc ngồi vào bàn ăn,
cha đọc cho chúng tôi một bài kinh bằng tiếng hébreu. Ông là người duy
nhất hiểu được ngôn ngữ đó, trong gia đình, không một ai nói hay hiểu
tiếng hébreau. Chúng tôi đã làm lễ sabbat như thế hàng nhiều năm nhiều
năm. Một hôm, chị chúng tôi thông báo là chị ấy đã gặp một người và muốn
kết hôn với anh ấy. Cha mẹ chúng tôi vui vẻ đón nhận tin này và bảo chị
mời anh ấy đến ăn tối, để làm quen. Chị Alice đề nghị ngay là thứ Sáu
tuần sau anh ấy sẽ tới cùng mừng lễ sabbat với cả nhà.
Trước sự ngạc nhiên chung, cha có vẻ không vui
mừng gì về ý tưởng này. Ông bảo rằng tóố đó là dành cho gia đình và bất
kỳ buổi tối nào khác trong tuần đều thích hợp hơn.
Mẹ hoài công lưu ý cha rằng, do đã chinh phục
được trái tim con gái ông, nên chàng khách mời có thể coi như người
trong nhà rồi, song không gì khiến được cha tôi đổi ý. Ông cho là để
giới thiệu lần dầu tiên, ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm thích
hợp hơn. Tất cả chúng tôi đều đồng tình với mẹ và nài nỉ để cuộc gặp gỡ
diễn ra vào tối sabbat, hôm ấy bữa ăn thịnh soạn hơn và khăn trải bàn
đẹp hơn. Cha tôi giơ hai tay lên trời mà rền rĩ và hỏi rằng tại sao gia
đình bao giờ cũng cứ liên kết chống lại ông thế. Ông rất thích tự coi
mình là nạn nhân.
Ông nói thêm là ông lấy làm lạ, rằng trong khi
ông đề xuất không cằn nhằn nhăn nhó, không đặt một câu hỏi cỏn con nào
(điều này chứng tỏ tinh thần cởi mở bao la của ông), mở cửa nhà mình tất
cả các ngày trong tuần trừ một ngày, thì gia đình lại thích đón tiếp
anh chàng không quen biết ấy (dù sao anh ta cũng sắp mang con gái ông
đi) vào buổi tối duy nhất không hợp với ông.
Mẹ, bản tính bướng bỉnh, muốn biết tại sao việc chọn tối thứ Sáu lại có vẻ đặt ra cho chồng mình một vấn đề lớn đến thế.
– Chẳng tại sao cả! ông kết luận, thừa nhận mình thất bại.
Cha tôi chưa bao giờ biết nói “không” với vợ
mình. Bởi vì ông yêu bà hơn mọi thứ trên đời, hơn các con của chính ông,
tôi cho là thế, và tôi không nhớ có một ước nguyện nào của mẹ tôi mà
ông không cố sức thực hiện. Tóm lại, tuần lễ qua đi mà cha tôi chẳng hề
hé răng. Và các ngày càng trôi, chúng tôi càng cảm thấy ông căng thẳng.
Hôm trước của bữa ăn tối mà tất cả chúng tôi đều
hết sức chờ đợi, cha gọi riêng con gái ra và thì thào hỏi rằng vị hôn
phu của con có phải người Do Thái hay không. Và khi Alice trả lời “Có ạ,
dĩ nhiên rồi”, thì cha tôi lại giơ hai tay lên trời mà rền rĩ “Cha biết
chắc như vậy mà!”.
Các bạn có nghĩ rằng phản ứng của ông chẳng khỏi khiến chị tôi sững sờ kinh ngạc, chị hỏi tại sao tin này rõ ràng là trái ý ông.
– Nhưng có sao đâu, con yêu, ông trả lời chị, và nói thêm với tà ý rành rành: Con định tìm cái gì ở đó nào?
Chị Alice chúng tôi, thừa hưởng tính cách của
mẹ, giữ lấy cánh tay cha khi ông định lỉnh vào phòng ăn, chị ngạo nghễ
đứng đối diện với ông.
– Con xin lỗi cha, nhưng dù sao con cũng hết sức
ngạc nhiên vì phản ứng của cha! Con cứ sợ cha có kiểu thái độ ấy nếu
con thông báo rằng vị hôn phu của con không phải người Do Thái, nhưng
lại ra thế này!!!
Cha bảo Alice là chị thật kỳ quái khi tưởng
tượng ra những điều như vậy, và thề rằng ông hoàn toàn mốc cần gốc gác,
tôn giáo hay màu da của người mà con gái ông đã chọn, trong trường hợp
người ấy là một trang hào hoa phong nhã và khiến con gái ông hạnh phúc
như ông từng biết yêu mẹ của cô. Alice không thật tin, nhưng cha tìm
cách thoát khỏi chị và lập tức đổi đề tài trò
Cuối cùng tối thứ Sáu cũng đến, chưa bao giờ
chúng tôi thấy cha chúng tôi căng thẳng như vậy. Mẹ cứ trêu cha suốt,
nhắc lại với cha tất cả những lần hơi bị đau một tí, hơi bị phong thấp
một tí là ông rền rĩ rằng mình sẽ chết trước khi gả chồng được cho con
gái… ông đang hoàn toàn khỏe mạnh và Alice từ nay đã có người yêu, vậy
là gộp đủ mọi lý do để vui mừng, chẳng có gì mà lo âu. Cha thề rằng
thậm chí ông chẳng biết vợ mình đang nói gì nữa.
Alice và Georges, đấy là tên vị hôn phu của chị
chúng tôi, bấm chuông và đúng bảy giờ và cha tôi giật nẩy mình, trong
lúc mẹ ngước mắt lên trời và ra đón anh chị.
Georges đẹp trai, vẻ thanh lịch ở anh hoàn toàn
tự nhiên, có thể tưởng anh là người Anh. Alice và anh rất đẹp đôi thành
thử việc họ lấy nhau dường như là một điều dĩ nhiên. Vừa mới tới,
Georges đã được gia đình chấp nhận rồi. Ngay cả cha tôi cũng khiến mọi
người có cảm giác ông bắt đầu thư giãn trong lúc dùng đồ khai vị.
Mẹ thông báo rằng bữa ăn đã sẵn sàng. Tất cả mọi
người yên vị quanh bàn, kính cẩn đợi cha tôi đọc bài cầu nguyện lễ
sabbat. Lúc ấy chúng tôi thấy ông hít vào thật sâu, nửa thân trên của
ông phồng ra và… xẹp xuống tức khắc. Thử lần nữa, kìa ông lấy lại hơi
và…. lại ỉu xìu. Một ý đồ thứ ba và đột nhiên, ông nhìn Georges và
thông báo:
– Tại sao chúng ta không để cậu khách mời đọc
thay tôi nhỉ? Rốt cuộc, tôi thấy rõ là cả nhà đã tán thành cậu ấy rồi và
một người cha phải biết né mình đi trước hạnh phúc của con cái khi thời
điểm đến.
– Mình nói gì vậy? mẹ hỏi. Thời điểm nào chứ? Và
ai yêu cầu mình né đi nào? Đã hai mươi năm nay mình tự đặt bổn phận thứ
Sáu nào cũng đọc bài cầu nguyện ấy, mà chỉ có mình hiểu được ý nghĩa,
vì ở đây không ai nói tiếng hébreau hết. Mình sẽ không bảo em rằng bỗng
nhiên mình thấy hoảng trước mặt bạn của con gái mình đấy chứ?
– Tôi có hoảng gì đâu, cha tôi vừa quả quyết, vừa xát xát ve áo vét.
Georges chẳng nói gì, nhưng tất cả chúng tôi đều
thấy anh biến sắc đôi chút, khi cha đề nghị anh làm lễ thay ông. Từ lúc
được mẹ cứu viện, vẻ mặt anh đã tươi hơn rồi. Cha tôi lại nói:
– Được, được. Thế thì có lẽ ít ra Georges cũng nhận lời cùng làm lễ với tôi chứ?
Cha bắt đầu đọc, Georges đứng lên và nhắc lại sau cha từng từ một
Cầu nguyện xong, cả hai lại ngồi xuống, và bữa tối là cơ hội cho một khoảnh khắc thân tình mà ai nấy đều cười vui hết lòng.
Cuối bữa, mẹ bảo Georges cùng bà xuống bếp, một dịp để hai người làm quen với nhau đôi chút.
Bằng một nụ cười a tòng, Alice trấn an anh, mọi
sự đều tốt đẹp. Georges thu nhặt các đĩa ăn trên bàn rồi đi theo mẹ
chúng tôi. Vào đến bếp, mẹ bỏ bát đĩa xuống cho anh và mời anh ngồi
xuống một chiếc ghế dựa.
– Hãy nói với tôi đi, Georges, cậu không hề là người Do Thái!
Georges đỏ mặt và húng hắng ho.
– Cháu cho là có, một ít về đằng cha cháu… hay một trong những ông anh của cha cháu; mẹ cháu từng theo đạo Tin Lành.
– Cháu nói về mẹ ở thì quá khứ ư?
– Mẹ cháu mất năm ngo
– Bác rất tiếc, mẹ khẽ nói, chân thành.
– Có vấn đề nếu…?
– Nếu cháu không phải là người Do Thái? Không có
vấn đề gì hết, mẹ cười mà nói. Cả bác trai và bác đều không coi sự dị
biệt của người khác là quan trọng. Ngược lại, bao giờ hai bác cũng nghĩ
rằng sự dị biệt ấy rất thú vị và là nguồn gốc của vô số hạnh phúc. Điều
quan trọng nhất, khi ta muốn sống thành đôi suốt đời, là biết chắc rằng ở
cùng nhau ta sẽ không buồn chán. Sự buồn chán trong một đôi lứa, đó là
điều tệ hại nhất, chính nó giết chết tình yêu. Chừng nào cháu còn làm
Alice cười vui, chừng nào cháu còn khiến nó mong muốn gặp lại cháu, khi
cháu vừa mới rời nó để đi làm, chừng nào cháu còn là người chia sẻ tâm
sự cùng nó và nó cũng thích thổ lộ tâm tình với cháu, chừng nào cháu còn
sống những ước mơ của cháu cùng với nó, ngay cả những ước mơ mà cháu
không thể thực hiện, thì bác chắc chắn rằng dù gốc gác của cháu ra sao,
điều duy nhất xa lạ với hai đứa sẽ là thế gian và những kẻ ganh ghét.
Mẹ ôm lấy Georges và đón nhận anh vào gia đình. Bà nói, gần như rớm nước mắt.
– Nào, vào nhanh với Alice đi. Nó sắp ghét việc
mẹ nó giữ vị hôn phu của nó làm con tin. Và nếu nó biết là bác đã thốt
ra cái từ vị hôn phu, thì nó giết bác đấ
Trong lúc đi về phía phòng ăn, Georges ngoảnh
lại và đứng ở ngưỡng cửa nhà bếp hỏi mẹ làm thế nào bà đoán được anh
không phải người Do Thái. Mẹ mỉm cười thốt lên:
– A! Đã hai mươi năm nay tối thứ Sáu nào chồng
bác cũng đọc một bài kinh bằng một ngôn ngữ do ông sáng tác ra. Ông chưa
từng biết một từ hébreu nào! Nhưng ông rất tha thiết với khoảnh khắc
mà, mỗi tuần, ông phát ngôn trước gia đình. Đó như là một truyền thống
mà ông lưu truyền bất kể sự dốt nát của mình. Và ngay cả khi các từ ngữ
của ông chẳng có nghĩa gì, bác biết dù sao đó cũng là những lời cầu
nguyện yêu thương mà ông phát biểu và sáng tạo cho vợ con. Cho nên, cháu
thấy là ban nãy khi bác nghe cháu lặp lại gần như y hệt thứ tiếng líu
lo trọ trẹ của bác trai, thì bác chẳng khó khăn gì cũng hiểu… Chuyện
này chỉ giữa bác và cháu thôi nhé. Chồng bác tin chắc là không ai nghi
ngờ gì việc thu xếp nho nhỏ của ông với Chúa, nhưng bác yêu ông từ bao
nhiêu năm nay rồi thành thử Chúa của ông và bác chẳng còn điều gì bí mật
nữa.
Vừa trở lại phòng ăn, Georges thấy mình bị cha chúng tôi kéo riêng ra một chỗ. Cha lầm bầm:
– Cảm ơn vì lúc nãy nhé.
– Vì cái gì ạ? Georges hỏi.
– Vì không cáo giác bí mật chứ gì nữa. Về phía
cháu thế là rất hào hiệp. Bác cho rằng cháu ắt đánh giá bác không hay.
Không phải bác thích thú gì việc duy trì điều nói dối ấy; nhưng từ hai
mươi năm nay… bây giờ nói với cả nhà thế nào đây? Phải, bác không nói
tiếng hébreau, đúng vậy. Nhưng đối với bác làm lễ sabbat là gìn giữ
truyền thống và truyền thống là quan trọng cháu hiểu chứ?
– Thưa bác, cháu không phải là người Do Thái,
Georges đáp. Ban nãy, cháu chỉ lặp lại những từ ngữ của bác mà chẳng có
một khái niệm gì về nghĩa của những từ ngữ ấy, và chính cháu muốn cảm ơn
bác đã không cáo giác điều bí mật.
– A! cha thốt ra và buông xuôi hai cánh tay.
Hai người đàn ông nhìn nhau một lát, rồi cha đặt tay lên vai Georges và bảo anh:
– Được, cháu nghe đây, bác đề nghị với cháu rằng
câu chuyện nhỏ này của chúng ta chỉ đúng có hai ta biết. Bác thì bác
đọc kinh sabbat còn cháu, thì cháu là người Do Thái!
– Đồng ý hoàn toàn ạ, Georges trả lời.
– Được, được, được, cha vừa nói vừa trở lại
phòng khách. Thế thì, tối thứ Năm tuần sau cháu tạt qua xưởng của bác,
chả là để ta cùng nhau lặp lại kỹ những từ ngữ mà ta sẽ đọc vào hôm sau,
vì giờ đây, hai chúng ta sẽ cầu kinh.
Bữa tối kết thúc, Alice tiễn Georges ra tận ngoài phố, chờ cho cả hai đứng khuất dưới cổng lớn và ôm lấy vị hôn phu.
– Chuyện quả thật rất ổn, với lại xin bái phục,
anh xoay xở cừ lắm. Em chẳng biết anh đã làm thế nào, nhưng cha không
thấy gì hết, còn lâu cha mới ngờ được rằng anh không phải là người Do
Thái.
– Ừ, anh cho là ta đã giải quyết được rất tốt, Georges vừa ra đi vừa mỉm cười.
Vậy đó, đúng như thế, Claude và tôi chưa từng có dịp bước vào một giáo đường Do Thái, trước khi bị giam ở đây.
° ° °
Tối hôm ấy, bọn lính gào thét ra lệnh gói ghém
cặp lồng và hòm xiểng với những ai có hòm xiểng, và tập hợp mọi thứ tại
hành lang chính của giáo đường. Người nào lề mề liền bị đấm bị đá để
nhắc nhở trật tự. Chúng tôi không có một khái niệm gì về nơi mình tới,
nhưng một điều khiến chúng tôi an lòng: khi bọn chúng đến tìm tù nhân để
mang đi bắn, những người ra đi không bao giờ trở về phải bỏ lại đồ đạc.
Chập tối, những người phụ nữ đã bị chuyển đến
đồn Hâ được đưa trở lại và nhốt ở một gian bên cạnh. Vào hai giờ sáng
các cánh cửa giáo đường mở ra, chúng tôi lại đi thành hàng và băng qua
thành phố vắng vẻ lặng lẽ, bước ngược lại con đường đã dẫn mình đến đây.
Chúng tôi lại lên tàu. Các tù nhân ở đồn Hâ và tất cả những người kháng chiến bị bắt trong mấy tuần vừa rồi đi cùng chúng tôi.
Từ nay, có hai toa phụ nữ ở đầu đoàn tàu. Chúng
tôi lại khởi theo hướng Toulouse, và một số người cho rằng chúng tôi trở
về nhà. Nhưng Schuster có những dự định khác trong đầu. Y đã thề rằng
đích đến cuối cùng sẽ là Dachau và không gì ngăn cặn được y, quân đội
Đồng minh đang tiến lên cũng không, những trận bom san phẳng các thành
phố chúng tôi đi qua cũng không, những nỗ lực của lực lượng kháng chiến
để trì hoãn bước tiến của chúng tôi cũng không.
Gần Montauban, cuối cùng Walter cũng trốn thoát
được. Anh phát hiện ra rằng một trong bốn đai xoắn vít chặt các chấn
song vào ô cửa sổ đã bị thay bằng một đinh ốc. Với chút nước bọt còn sót
lại và toàn bộ sức lực của các ngón tay, anh cố xoay chiếc đinh, và khi
miệng quá khô, thì chính máu từ vết thương ở các ngón tay có lẽ sẽ
khiến chúng đủ ẩm ướt để làm lung lay chiếc đinh ốc. Sau hàng giờ rồi
lại hàng giờ đau đớn, cái vật kim loại bắt đầu trượt đi, Walter muốn tin
ở cơ may của mình, anh muốn tin ở hy vọng.
Những ngón tay anh sưng tấy đến nỗi, khi đạt
được mục đích, anh không xòe được chúng ra nữa. Bây giờ chỉ phải đẩy
thanh chấn song là khoảng trống ở cửa sổ sẽ đủ để lách người qua. Nép
mình trong bóng tối toa tàu, ba chiến hữu nhìn anh, Lino, Pipo và Jean,
tất cả đều là những người trẻ tuổi mới gia nhập đội 35. Một cậu khóc,
cậu không chịu được nữa, cậu sắp hóa điên. Phải nói rằng chưa bao giờ
cái nóng lại dữ dội đến thế. Mọi người ngột ngạt và toàn bộ toa tàu
dường như thở hắt ra theo nhịp khò khè của những tù nhân đang tắc nghẹn.
Jean van nài Walter giúp họ trốn, Walter ngần ngại, thế rồi làm sao lại
không nói gì, làm sao lại không giúp những người như thể anh em với
mình. Thế là anh ôm lấy họ bằng những bàn tay bầm dập của anh và tiết lộ
với họ điều anh đã thực hiện. Họ sẽ đợi đêm đến để nhảy,7;u tiên là
anh, sau đó là những người khác. Họ khe khẽ nhắc lại cách làm. Bám vào
trụ cửa, thời gian để chui toàn thân ra ngoài, rồi nhảy xuống và chạy ra
xa. Nếu bọn Đức bắn, thì ai lo phận nấy; nếu thành công, khi ngọn đèn
đỏ khuất dạng, họ sẽ đi ngược dọc con đường sắt để tập hợp lại.
Ánh ngày bắt đầu tắt, thời điểm xiết bao chờ đợi
sắp đến, nhưng số phận dường như đã định đoạt theo cách khác. Đoàn tàu
giảm tốc độ ở ga Montauban. Qua tiếng bánh xe, thấy tàu đi vào một chỗ
đường đỗ tránh. Và khi bọn Đức với các khẩu liên thanh được bố trí trên
sân ga, thì Walter tự nhủ thế là hỏng rồi. Lòng đau đớn, bốn anh em ngồi
xổm xuống và mỗi người trở về với nỗi cô đơn của mình.
Walter muốn ngủ, lấy lại đôi chút sức lực, nhưng
máu đập dồn ở các ngón tay anh và cái đau quá mãnh liệt. Trong toa,
nghe thấy vài tiếng than vãn.
Hai giờ sáng, đoàn tàu chuyển mình. Tim Walter
không còn đập dồn ở những bàn tay nữa mà là trong ngực. Anh lay các
chiến hữu và họ cùng nhau chờ thời điểm thuận lợi. Đêm quá sáng, mặt
trăng gần như tròn đang chiếu rạng trên bầu trời sẽ làm lộ họ quá dễ
dàng. Walter rình bên cửa sổ, tàu lăn nhanh, xa xa, một khu rừng thấp in
hình.
° ° °
Walter và hai chiến hữu trốn khỏi con tàu. Sau
khi rơi xuống đường hào, anh ngồi xổm ở đó rất lâu. Và khi ngọn đèn đỏ
của đoàn tàu mờ xóa trong bóng đêm, anh giơ hai tay lên trời mà kêu “Mẹ
ơi”. Anh đi bộ nhiều cây số, Walter. Đến ven một cánh đồng, anh gặp phải
một gã lính Đức đang đại tiện, khẩu súng có cắm lưỡi lê đặt bên cạnh.
Nằm giữa đám ngô, Walter chờ đợi khoảnh khắc thuận lợi và lao mình vào
tên lính. Anh tìm đâu ra chút sức lực còn lại này để thắng tên lính
trong lúc vật lộn? Lưỡi lê cắm vào thân thể tên lính; trong khi đi nhiều
cây số nữa, Walter có cảm giác mình đang bay, như một cánh bướm.
Tàu không dừng lại ở Toulouse, chúng tôi không trở về nhà. Chúng tôi đã vượt qua Carcassonne, Béziers, Montpellier.
Chú Thích
1. Ngày nghỉ cuối tuần của đạo Do Thái.
2Hébreau: tên gốc của dân Do Thái (dân tộc này chỉ mang tên Do Thái từ
cuộc Lưu đầy, vào thế kỷ IV trước CN). Tiếng hébreau là ngôn ngữ của
người Do Thái cổ xưa.
Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+