Trang chủ » Thế giới truyện » Trinh thám hình sự

Sherlock Holmes toàn tập ( Tập 1 ) – Phần 14 – Những hình nhân nhảy múa 

Đăng ngày 12/6/2013 by admin

Xem toàn tập:

Holmes cầm mảnh giấy trên bàn đưa cho tôi rồi quay lại với công việc phân tích hoá học.

Tôi ngạc nhiên thấy tờ giấy được vẽ những chữ tượng hình.

– Chú nhãi nào vẽ thế?

– Ý kiến của anh vậy à?

– Cái này là cái gì?

– Ông Hil-tơn cũng muốn biết đó là cái gì. Ông đã chuyển nó cho chúng ta ngay từ chuyến thư đầu tiên, còn ông sẽ đến đây bằng tàu hoả. Anh có thấy chuông reo không? Có lẽ ông ta đến đấy!

Tiếng những bước chân nặng nề vang lên ở cầu thang. Lát sau, một người cao lớn, bảnh bao, má ửng hồng bước vào phòng. Sau khi bắt tay chúng tôi, ông định ngồi xuống ghế. Đột nhiên ông chú ý ngay đến mảnh giấy có những kí hiệu ngộ nghĩnh tôi mới xem xong và đặt trên bàn.

– Ông nghĩ sao về cái này, ông Holmes. Người ta nói rằng ông là người ưa thích những chuyện bí ẩn.

– Đây thực sự là những hình vẽ rất bí ẩn. Thoạt nhìn có thể coi nó là trò nghịch ngợm của trẻ con. Người lớn nào có thể vẽ những hình người nhảy múa rời rạc như vậy? Thế nhưng vì sao ông lại cho rằng mảnh giấy quái đản này có một ý nghĩa quan trọng ?

– Tôi sẽ không gán cho nó một ý nghĩa nào cả, nếu không có chuyện vợ tôi… Nàng đã chết ngất khi nhìn thấy nó.

Holmes khẽ nâng tờ giấy lên. Đó là một mảnh giấy được xé ra từ một cuốn sổ tay. Những hình ảnh như thế này được vẽ bằng bút chì trên mặt giấy. 

Holmes chăm chú xem tờ giấy, thận trọng gập lại và cất vào trong ví.

– Câu chuyện hứa hẹn nhiều điều bí ẩn khác thường. Trong thư, ông đã kể rồi, song xin ông vui lòng kể lại chuyện ấy cho người bạn của tôi, bác sĩ Watson đây nghe.

– Hàng trăm năm nay, dòng họ của tôi được coi là dòng quý tộc danh tiếng nhất ở Norfolk. Năm ngoái, khi đi dự hội ở Luân Đôn, tôi lưu lại trong một ngôi nhà bày đồ gỗ ở công trường Russel và vị linh mục của địa phương chúng tôi cũng dừng chân tại đó. Một cô gái quý tộc người Mỹ là Elsie Patrick, sống trong ngôi này. Chúng tôi nhanh ***ng trở nên thân mật với nhau. Chưa đầy một tháng tôi đã yêu nàng. Chúng tôi chịu phép cưới ở nhà thờ rồi cùng nhau đến sống lại Norfolk.

Với tôi, nàng rất thành tâm và thẳng thắn. Elsie nói rằng tôi có quyền từ chối lễ cưới nếu tôi muốn: “Cuộc đời trước đây của em có nhiều chuyện thật không vui. Em muốn quên đi tất cả. Em không muốn trở lại quá khứ của mình. Nếu lấy em thì có nghĩa là anh lấy một người đàn bà chưa hề làm điều gì đáng phải hổ thẹn cả. Anh hãy tin vào lời em nói, và cần cho phép em không đả động gì tới quãng đời quá khứ của em. Nếu không được như vậy, anh hãy quay trở về Norfolk đi! Em sẽ tiếp tục sống cô độc như trước đây”.

Nàng đã nói với tôi như vậy vào hôm trước lễ cưới. Tôi trả lời nàng rằng: Anh sẵn lòng chiều theo ý em. Chúng tôi thành vợ chồng được một năm nay. Thời gian trôi đi thật êm đềm. Thế nhưng cách đây một tháng. Vợ tôi nhận được một lá thư gởi từ Mỹ. Mặt nàng xanh tái. Nàng đọc xong lá thư rồi ném vào lửa. Nàng không nhắc lại chuyện đó, và tôi cũng không hỏi, vì “quân tử bất hí ngôn” mà! Có điều, từ đấy trở đi, nàng không bình tâm được lấy một phút. Gương mặt nàng luôn tỏ ra khiếp đảm. Có thể thấy rõ rằng nàng đang mong đợi cái gì đó.

Rồi cách đây một tuần, tôi đã nhìn thấy trên bậu cửa sổ những hình nhân nhảy múa như trên mảnh giấy này. Chúng được vẽ bằng phấn. Tôi nghĩ cậu bé làm ở tàu ngựa đã vẽ chúng. Nhưng câu ta thề thốt rằng cậu không biết gì cả. Chúng xuất hiện vào ban đêm. Tôi lau sạch đi, và vô tình nhắc tới chúng trong một lần nói chuyện với nàng.

Nàng yêu cầu tôi chỉ cho nàng coi, nếu tôi lại trông thấy những hình nhân như thế. Suốt một tuần liền, không thấy chúng xuất hiện. Thế rồi sáng hôm qua, tôi nhặt được mảnh giấy này trên chiếc đồng hồ mặt trời ngoài vườn. Tôi chỉ cho nàng coi và lập tức nàng ngất xỉu đi. Từ giờ phút ấy, nàng sống chập chờn như trong mơ. Đôi mắt nàng tràn đầy nỗi khiếp sợ. Còn tôi thì khác, ông sẽ nói cho tôi biết cần phải làm gì. Tôi không giàu có, nhưng sẵn sàng tiêu đến đồng xu cuối cùng để bảo vệ nàng.

Tình yêu thương và lòng chung thủy với vợ được ghi lại trên từng nét mặt nhỏ nhất của khuôn mặt ông. Holmes nghe hết câu chuyện với sự chăm chú sâu sắc. Sau đó anh trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng, anh nói:

– Ông không thẳng thắn yêu cầu vợ ông nói hết ra những bí ẩn hay sao?

Hil-tơn lắc lắc cái đầu đồ sộ của mình:

– Lời hứa ông Holmes ạ! Nếu Elsie muốn, thì nàng đã kể cho tôi nghe rồi. Còn nếu không muốn, tôi không ép nàng.

– Nếu vậy, tôi sẽ hết lòng giúp ông. Hãy nói cho tôi biết có người nào ở nơi khác đến sống cạnh gia đình ông không?

– Không.

– Tôi biết ông sống ở một nơi rất hẻo lánh. Sự xuất hiện của bất kì người lạ nào không thể không để lại dấu vết.

– Nếu có người lạ mặt nào ở ngay cạnh nhà tôi, tất nhiên tôi đã biết. Có điều, cách không xa từ chỗ chúng tôi có vài làng ven biển với những bãi tắm lớn. Các điền chủ đã cho những người từ xa đến thuê các phòng nghỉ khang trang.

– Trong những hình vẽ kì quái này chắc chắn ẩn chứa một ý nghĩa nào đấy. Theo ý tôi, ông cần trở lại Norfolk, chú ý theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh. Còn khi ông phát hiện ra ở nơi nào đó những hình nhân nhảy múa mới, thì ông cần chép y lại một cách tỉ mỉ nhất. Đáng tiếc là ông đã không sao lại những hình người được vẽ bằng phấn trên bậu cửa! Hãy dò xét tất cả những người quen biết xuất hiện ở cạnh nhà. Và khi nhận ra được một chút gì mới, ông hãy đến ngay chỗ tôi. Nếu thấy cần thiết, tôi sẵn sàng đến chỗ ông.

Sau cuộc gặp gỡ nói trên. Holmes thường hay trầm ngâm suy nghĩ. Nhiều lần tôi trông thấy anh chăm chăm xem những hình người ngộ nghĩnh được vẽ trên đá. Tuy nhiên, chỉ sau hai tuần, anh lại bắt đầu trò chuyện với tôi về chuyện này. Lúc tôi sửa soạn bước ra khỏi nhà, anh đột nhiên ngăn tôi lại:

– Tốt hơn là anh hãy ở nhà!

– Vì sao?

– Sáng nay tôi nhận được điện của Hil-tơn. Ông ấy có ý định đi Luân Đôn vào lúc 10 giờ. Chỉ vài phút sau nữa, ông ta sẽ đến đây. Theo bức điện, tôi hiểu rằng ông đã có những tin tức cực kỳ quan trọng.

Chúng tôi chờ đợi không lâu thì vị điền chủ đã từ sân ga phóng thẳng đến chỗ tôi. Mặt ông lộ rõ vẻ âu lo.

– Câu chuyện khiến tôi bực mình, ông Holmes ạ! – Ông ta buông mình xuống ghế bành và nói – Thật là quá khổ tâm khi ta cảm thấy bị những người xa lạ vô hình toan đẩy ta vào một hiểm hoạ nào đấy, còn khủng khiếp hơn nữa khi nhận ra rằng từ ngày này qua ngày khác, những con người đó dần dần huỷ diệt người thân của ta. Nàng đã giấu tôi!

– Bà ấy đã nói với ông điều gì phải không?

– Không nói điều gì cả. Có lúc nàng như muốn kể cho tôi nghe hết thảy, chúng tôi không đủ cương quyết. Tôi toan giúp nàng, thì tôi vụng về đến mức chỉ làm nàng sợ hãi thêm. Nàng bắt đầu hay nói về chuyện chúng tôi thuộc một dòng họ lâu đời như thế nào, mọi người trong dòng họ kính trọng tôi ra sao, chúng tôi tự hào về lương tâm trong sạch của mình như thế nào. Lần nào cũng vậy, tôi cảm thấy nàng muốn nói thêm một điều gì, nhưng rồi lại thôi.

– Ông có phát hiện ra cái gì không?

– Rất nhiều, ông Holmes ạ! Tôi đưa đến cho ông hàng đống những hình nhân nhảy múa mới đây. Nhưng quan trọng nhất là cái này…

– Ai vẽ chúng thế?

– Tôi nhìn thấy nó sau giờ làm việc. Nhưng hãy cho phép tôi kể theo trình tự. Sau khi từ chỗ ông về, ngay sáng hôm sau, tôi đã tìm thấy những hình người nhảy múa mới. Chúng được vẽ bằng phấn trên cánh cửa sổ màu đen của kho chứa củi nằm cạnh bãi cỏ. Tôi sao chép lại tất cả. Đây, chúng đây!

Ông ta rút tờ giấy, mở ra và đặt lên bàn. Những chữ tượng hình như thế này được vẽ trên mặt giấy.

– Tuyệt vời! Thật tuyệt vời. Hãy tiếp tục đi!

– Khi vẽ lại xong, tôi xoá chúng. Thế mà hai ngày sau, trên cánh cửa ấy lại xuất hiện hàng mới! Chúng đây!

Holmes bật cười vì vui sướng:

– Tài liệu của chúng ta được tăng lên mau ***ng.

– Sau 3 ngày, trên chiếc đồng hồ mặt trời lại xuất hiện một lá thư nhỏ nằm ở dưới một viên đá. Chúng đây! Ông thấy không, những hình vẽ ở trên đó chính là hình vẽ ở lá thư đầu tiên.

Thế là tôi quyết định rình người đã vẽ. Suốt từ một đến hai giờ khuya, tôi cầm súng lục, ngồi ở cạnh cửa sổ và nhìn ra khu vườn đầy ánh trăng. Tôi nghe thấy tiếng những bước chân sau lưng mình. Ngoái cổ lại, tôi nhận ra vợ tôi trong bộ quần áo dài mặc ở nhà. Nàng năn nỉ tôi trở vào giường nằm. Tôi thành thực nói với nàng rằng tôi muốn xem ai là người làm trò tinh nghịch ấy. Nàng nói rằng đây chỉ là một trò đùa vớ vẩn, không đáng quan tâm đến.

– Nếu chuyện đó làm anh bực bội như thế, thì chúng ta hãy cùng ra đi. Khi ấy sẽ không một ai quấy rầy chúng ta nữa.

– Sao kì vậy? Nếu làm vậy, cả dòng họ sẽ chế nhạo chúng ta.

– Hãy đi nghỉ thôi! Sáng mai chúng ta sẽ bàn tiếp chuyện đó vậy – Nàng nói.

Tự nhiên khuôn mặt nàng tái xám đi (tôi nhận ra điều này thậm chí ngay cả dưới ánh trăng). Bàn tay nàng bám chặt vào vai tôi. Có một cái gì động đậy trong bóng tối của kho chứa củi. Một bóng đen gập người từ góc vườn trườn ra rồi ngồi lại trước cửa. Tôi giật lấy khẩu súng lục, chạy lao người về phía trước. Nhưng vợ tôi đột nhiên ôm chầm lấy tôi, giữ tôi đứng lại. Tôi càng cố giẫy ra, nàng càng bám lấy tôi táo tợn hơn. Cuối cùng, tôi dứt được ra. Song lúc đẩy cửa chạy tới kho chứa củi thì bóng đen đã biến mất. Tôi lùng sục khắp vườn vẫn không tìm ra dấu hắn. Sáng hôm sau, tôi lại xem xét cửa kho củi thì dưới hàng chữ mà tôi đã có dịp nhìn thấy, lại xuất hiện thêm vài hình người mới.

– Ông có chép lại không?

– Có chứ!

Ông ta lại cho chúng tôi coi một mảnh giấy khác. Những hình người nhảy múa mới có dáng vẻ như sau.

– Những hình người này được vẽ thêm vào hàng chữ trước đây hay được vẽ riêng ra? – Holmes hỏi, vẻ xúc động.

– Chúng được vẽ trên thang gỗ, phía dưới cánh cửa.

– Thật tuyệt! Điều này đối với chúng ta hệ trọng hơn tất cả. Nó gieo niềm hi vọng. Ông Hil-tơn, ông hãy tiếp tục câu chuyện lí thú này!

– Tôi rất giận vợ tôi vì nàng đã ngăn không cho tôi lùng bắt tên vô lại. Tôi muốn nhờ năm sáu chàng trai rình trong bụi cây, chờ dịp nện cho nó một trận nên thân.

– Căn bệnh quá trầm trọng sẽ không được chữa khỏi bằng thứ thuốc thông thường đâu. Ông có thể lưu lại Luân Đôn trong bao lâu! – Holmes hỏi.

– Tôi phải trở về ngay hôm nay. Nàng rất lo và đã yêu cầu tôi quay về càng sớm càng tốt.

– Ông hoàn toàn có lý. Song, giá như ông có thể ở lại thì sau một hoặc hai ngày gì đó, tôi sẽ cùng đi với ông. Dầu sao cũng phải để những mảnh giấy này lại cho tôi.

Theo thói quen nghề nghiệp, Holmes gắng tỏ ra thật bình tĩnh. Nhưng tôi nhận thấy anh đang xúc động. Đôi vai rộng của Hil-tơn vừa khuất sau cánh cửa, anh bạn tôi đã chạy bổ đến bàn, trải các mảnh giấy ra. Trong vòng hai tiếng, anh đã viết hết từ tờ này đến tờ khác la liệt những con số và chữ cái. Công việc này cuốn hút anh tới mức hình như anh quên mất sự có mặt của tôi trong phòng. Cuối cùng, anh hài lòng kêu lên, nhổm phắt dậy, vừa xoa xoa hai tay vừa chạy khắp phòng. Sau đó anh chuyển đi một bức điện dài.

– Có lẽ sáng mai tôi và anh sẽ cùng đi Norfolk. Chắc chắn cuốn sách của anh sẽ phong phú thêm nhờ có câu chuyện li kì này.

Óc tò mò hành hạ tôi, nhưng tôi biết Holmes chỉ nói khi nào thấy cần thiết.

Thế là tôi nén lòng chờ đợi.

Thế nhưng không có điện trả lời. Suốt hai ngày liền, Holmes phập phồng lắng nghe từng tiếng chuông reo. Chiều ngày thứ hai chúng tôi nhận được thư của Hil-tơn. Ông ta cho biết ở chỗ ông tất cả đều yên tĩnh nhưng sáng nay, trên giá đỡ của chiếc đồng hồ mặt trời đã xuất hiện hàng chữ dài nhất. Bản sao chép chính xác dòng chữ này được đính kém lá thư. Hàng chữ được kẻ như thế này.

Holmes gập người nhìn bản vẽ kì quái. Bất thình lình anh nhổm phắt dậy, kêu lên ngạc nhiên và giận dữ. Khuôn mặt lo âu của anh trở nên cau có:

– Chúng ta đã để cho công việc đi quá xa mất rồi! Buổi chiều có chuyến tàu nào đi tới North-Walsham?

Tôi liếc nhìn vào bảng giờ tàu đầu tiên vậy. Sự có mặt của chúng ta ở đó là rất cần thiết. Người khách hàng của chúng ta đang sa vào mạng lưới cực kì nguy hiểm.

Chúng tôi vừa mới xuống North-Walsham thì người xếp ga đã chạy hỏi :

– Các ông là những thám tử từ Luân Đôn tới.

– Sao ông lại nghĩ vậy?

– Bởi vì viên thanh tra Mác-tin cũng từ Norwich qua đây. Các ông là bác sĩ? Bà ta vẫn còn sống; các ông sẽ còn kịp để cứu bà ta…

Holmes cau có và lo ngại:

– Chúng tôi sẽ đến Ridling Thorpe. Nhưng chưa rõ chuyện gì đã xảy ra ở đó.

– Một chuyện khủng khiếp – Người xếp ga nói – Ban đầu bà ta bắn ông ấy, rồi sau đó tự bắn mình. Những người hầu gái kể như vậy. Ông ta đã chết và bà ấy cũng sẽ chết. Than ôi!

Holmes nhảy lên ngựa. Anh hoàn toàn im lặng trong suốt cuộc hành trình. Tôi ít có dịp thấy anh rơi vào một tâm trạng âu sầu đến thế. Ngay từ đầu, tôi đã thấy anh hết sức lo ngại lúc xem qua những tờ báo buổi sáng. Thế nhưng lúc này, khi những nỗi lo sợ tồi tệ nhất của anh đã được xác nhận thì anh như hoá đá. Anh ngồi ngả người về phía sau, đắm mình trong những ý tưởng buồn bã. Trong khi ấy, chúng tôi đi qua một trong những nơi kì thú nhất của nước Anh. Cư dân trong vùng sống thưa thớt. Nhưng theo mỗi bước chân đi nổi bật lên trên cánh đồng xanh mướt là những chiếc tháp cao, to, xác nhận niềm vinh quang của miền Đông nước Anh xưa kia.

Cuối cùng, bác xà ích dùng roi chỉ cho chúng tôi coi hai mái nhà nhọn đầu giữa thôn quê:

– Thái ấp Ridling Thorpe đấy!

Đến gần ngôi nhà, tôi để ý thấy phía trước có một cái kho chứa củi màu đen nằm sau cái sân um tùm và chiếc đồng hồ mặt trời đặt trên bệ. Một người lanh lợi với bộ râu tỉa tót cẩn thận vừa nhảy từ xe hai bánh xuống. Đó là viên thanh tra Mác-tin. Ông ta kinh ngạc khi trông thấy người bạn tôi.

– Thưa ông Holmes, tội ác đã được thực hiện vào lúc 3 giờ sáng! Do đâu mà ông biết được và đã đến đây cùng một lúc với chúng tôi?

– Tôi đoán ra và đi đến để ngăn chặn tội ác.

– Ông có những tài liệu mà chúng tôi không có.

– Tôi chỉ có những tin tức nhận được từ những hình người nhảy múa. Tôi đã đến muộn: không ngăn chặn được nó… Ông có cần tiến hành điều tra cùng với tôi không? Hay ông thích để tôi tự tìm hiểu lấy?

– Được tiến hành cùng với ông là một vinh dự lớn đối với tôi, ông Holmes ạ! – Viên thanh tra thành thật trả lời.

– Trong trường hợp này, tôi muốn lắng nghe những lời khai của các nhân chứng, và tận mắt xem hiện trường.

Thanh tra Mác-tin thông minh đến mức cho phép Holmes xử sự theo cách riêng của mình. Bác sĩ địa phương, vừa ở trong phòng bà Hil-tơn bước ra. Ông nói rằng sức khoẻ của bà chưa hết hi vọng, viên đạn chỉ mới sượt vào não. Về câu hỏi bà ta tự bắn vào người hay do một người nào khác bắn thì ông không dám quyết đoán.

– Ở bất kì trường hợp nào, phát súng cũng được bắn từ một cự li rất gần. Người ta chỉ tìm thấy trong phòng một khẩu súng ngắn và hai vỏ đạn. Ông Hil-tơn bị bắn thẳng vào tim. Có thể giả thiết rằng trước tiên ông ta bắn vợ và sau đấy bắn mình. Cũng có thể giả thiết chính bà vợ gây tội ác đầu tiên, vì khẩu súng ngắn nằm trên vạt áo của bà.

– Ông khám xét nạn nhân chưa? – Holmes hỏi.

– Chưa. Chúng tôi chỉ mới nâng bà lên và chuyển đi.

– Ông ở đây lâu chưa bác sĩ?

– Từ bốn giờ sáng.

– Có ai khác ngoài ông ở đây không?

– Có. Kiểm tra viên.

– Ông đã hành động một cách thận trọng. Ai gọi ông đến?

– Chị hầu phòng Sô-đơ.

– Chị ta là người đầu tiên báo động phải không?

– Chị ấy và bà King, người nấu bếp.

– Bây giờ họ ở đâu?

– Có lẽ ở trong bếp.

– Chúng ta sẽ bắt đầu nghe các lời khai của họ.

Gian phòng cũ kĩ được ghép bằng gỗ sồi với những cánh cửa cao biến thành phòng điều tra. Holmes ngồi xuống ghế, mặt lạnh lùng. Tôi đọc trong ánh mắt của anh ý chí kiên quyết, nếu cần có thể hiến cả cuộc đời mình để con người kia được toại nguyện. Trong phòng, ngoài tôi ra còn có thanh tra Mác-tin, ông bác sĩ và một cảnh sát nông thôn.

Lời khai của hai người đàn bà chính xác ở mức độ cao: Tiếng súng đã đánh thức họ dậy. Sau chừng một phút, họ nghe phát súng thứ hai. Bà King đã chạy bổ tới chỗ cô Sô-đơ. Họ cùng xuống cầu thang. Cửa phòng bị mở toang, cây nến chiếu sáng trên bàn. Chủ nhân nằm úp mặt xuống nền nhà ở giữa phòng, tắt thở. Vợ ông đang quằn quại cạnh cửa sổ, đầu tựa vào tường. Máu đỏ khắp nửa mình. Bà ta vẫn thở, nhưng không thể nói được. Ngoài hành lang cũng như trong phòng đều có khói và phảng phất mùi thuốc súng. Cửa sổ bị đóng lại bằng chốt phía trong. Cả hai người đàn bà đều hoàn toàn khẳng định điều này. Ngay lập tức, họ đi gọi bác sĩ và cảnh sát. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của người coi ngựa và chú bé làm ở chuồng ngựa, họ đưa bà chủ bị thương sang phòng bà. Bà mặc bộ áo quần dài. Còn người chồng thì mặc đồ trong nhà, phía ngoài choàng áo ngủ. Vợ chồng họ không bao giờ to tiếng với nhau. Mọi người cho rằng họ là cặp vợ chồng thân ái nhất.

Trả lời thanh tra viên Mác-tin, hai người phụ nữ nói rõ rằng tất cả song cửa sổ đều bị khoá lại từ phía bên trong, rằng không một ai có thể thoát ra khỏi nhà. Khi trả lời Holmes, hai người đều nhớ lại rằng họ ngửi thấy mùi thuốc súng ngay sau khi chạy ra từ phòng mình ở lầu hai. Holmes nói với ông thanh tra:

– Chúng ta hãy chú ý tới sự việc này; còn bây giờ, cần xem xét căn phòng đã diễn ra tội ác.

Đó là một căn phòng rất bé. Các giá sách choán hết ba phía tường, bàn làm việc đặt cạnh cửa sổ quay ra vườn. Chúng tôi để ý trước tiên đến thi thể kẻ bất hạnh nằm sóng soài trên nền. Áo quần xộc xệch. Chứng tỏ rằng ông ta đã bị dựng dậy từ giường một cách vội vã. Viên đạn xuyên qua trái tim, kẹt lại trong người. Trên bộ quần áo cũng như hai bàn tay không có dấu tích của thuốc súng; bác sĩ nói rằng trên người ông Hil-tơn, chỉ có dấu vết của thuốc súng ở mặt, chứ không có trên bàn tay.

– Việc không có dấu vết của thuốc súng ở bàn tay chẳng chứng tỏ điều gì, nhưng sự hện diện của nó trên mặt lại chứng minh tất cả; Anh sẽ không làm vấy bẩn bàn tay khi anh bắn… Bây giờ, có thể đưa thi thể ông Hil-tơn ra được rồi. Bác sĩ, có lẽ ông sẽ không tìm được các viên đạn bắn bà Hil-tơn – Holmes nói.

– Muốn vậy, buộc phải tiến hành một ca mổ nghiêm túc. Trong khẩu súng còn 4 viên đạn, ngoài này có 2 phát súng và 2 vết thương. Thật ra không khó khăn gì khi xác định số phận của từng viên đạn.

– Xin làm ơn xác định giùm số phận của viên đạn xuyên qua rìa khung cửa sổ kia kìa!

Anh đột nhiên quay người lại và dùng ngón tay chỉ vào lỗ thủng ở thanh nối phía dưới của khung cửa sổ. Viên thanh tra kêu lên:

– Tài thật! Ông phát hiện ra cái đó bằng cách nào vậy?

– Tôi tìm ra vì tôi có ý đi tìm nó.

– Tài tình thật! – Ông bác sĩ nói – Ông hoàn toàn có lý, nghĩa là phát súng thứ ba, và đã có người thứ ba. Nhưng hắn là ai? Hắn đã biến đi đâu?

– Ông thanh tra, các nữ hầu nói rằng lúc chạy ra từ phòng mình, họ đã ngửi thấy mùi thuốc súng và tôi đã nói với ông rằng ta cần lưu ý đến điều đó.

– Tôi nhớ. Nhưng tiếc thay tôi không nắm được ý của ông.

– Điều đó chứng tỏ cả cửa ra vào lẫn cửa sổ đều bị mở toang. Nếu không, khói thuốc không thể lan toả khắp nhà với một tốc độ nhanh như thế. Chỉ có gió lùa mới thổi khói thuốc bay xa đến như vậy. Trong phòng này, các cửa vào lẫn cửa sổ được mở ra trong khoảnh khắc.

– Tại sao?

– Bởi vì ngọn nến này hãy còn sáng.

– Đúng vậy – Thanh tra kêu lên.

– Khi biết chắc vào thời gian xảy ra vụ án, các cửa sổ bị mở ra, tôi đã kết luận rằng có người thứ ba tham dự vào: Người đó đứng ở phía ngoài và bắn qua cửa sổ. Còn viên đạn nhắm bắn vào người thứ ba thì có thể đã ghim vào khung cửa sổ. Tôi đã nhìn thấy và thức tế đã tìm ra dấu tích của viên đạn.

– Nhưng cửa sổ được đóng lại bằng cách nào?

– Chắc chắn người đàn bà đã đóng lại, đóng lại một cách vô ý thức… Nhưng cái gì thế này?

Trên bàn có một chiếc ví phụ nữ. Chiếc ví nhỏ nhắn làm bằng da cá sấu được ngăn bằng một lớp bạc lộng lẫy. Holmes mở ví, trút các thứ lên bàn.

Trong đó có tất cả 20 phiếu tín dụng, 50 bảng Anh.

– Hãy cầm lấy! Những thứ này sẽ được chuyển tới trong phiên toàn – Holmes nói và chuyển cho viên thanh tra. Bây giờ cần làm sáng tỏ viên đạn thứ ba hướng tới người nào? Lỗ thủng ở khung cửa sổ cho thấy người ta bằng tới từ phòng này. Tôi muốn thảo luận lại với bà King… Bà nói rằng phát súng nổ lớn đã đánh thức bà dậy. Ý bà muốn nói phát súng đầu nổ to hơn phát thứ hai phải không?

– Tôi đang ngủ, cho nên tôi khó mà bàn luận được. Tôi chỉ cảm thấy tiếng nổ rất to.

– Bà không cho rằng cả hai phát súng hầu như nổ cùng một lúc chứ?

– Tôi không thể phân tích được điều đó.

– Tôi tin là đúng như vậy! Ông thanh tra, trong căn phòng này, chúng ta không biết gì hơn được nữa đâu. Nếu các ông đồng ý, chúng ta sẽ cùng ra ngoài vườn và sẽ cùng xem xét ở đấy có điều gì thú vị không.

Ngay phía dưới cửa sổ căn phòng có một bồn hoa, khi đến đó, chúng tôi cùng kêu to lên. Hoa bị xéo nát. Những vết chân in hằn lên trên mảnh đất xốp rất rõ. Đó rõ ràng là những vết chân đàn ông to bè rất dài và sắc. Holmes chân lướt trên cỏ, trên lá như *** săn lùng sục chim bị thương. Đột nhiên anh kêu lên sung sướng. Anh cúi xuống và nhặt lên một khối trụ nhỏ bằng đồng.

– Tôi biết mà! Đây chính là viên đạn thứ ba.

Vẻ sửng sốt in hằn trên nét mặt ông thanh tra. Rõ ràng ông thán phục tốc độ và tài nghệ của Holmes. Lúc đầu ông ta bảo vệ ý kiến của mình, thế nhưng chẳng bao lâu ông thực sự thích thú vì đã bị Holmes chinh phục hoàn toàn.

– Ông nghi ai? – Viên thanh tra hỏi.

– Còn chờ một chốc nữa thôi, sau đấy tôi sẽ giải thích cho ông rõ hết thảy.

– Ông Holmes, chỉ mong sao kẻ sát nhân không được thoát.

– Mọi mối liên hệ của tội ác này đã nằm gọn trong tay tôi. Thậm chí nếu bà quý tộc không bao giờ tỉnh lại nữa, chúng ta vẫn khôi phục lại được tất cả những gì đã xảy ra vào đêm hôm qua và giành được công lý. Trước hết, tôi muốn biết cạnh đây có khách sạn nào tên là Elriges không?

Người ta lấy khẩu cung các gia nhân trong nhà, nhưng không một ai nghe thấy tên một khách sạn như vậy. Chỉ có chú bé làm ở tàu ngựa đột nhiên nhớ tới một người có họ là Elriges ở gần East Ruston, cách đây vài dặm.

– Trang trại của ông ta rất biệt lập à?

– Vâng, rất biệt lập.

– Có lẽ ở đó người ta chưa biết chuyện gì đã xảy ra ở đây?

– Có lẽ thế, thưa ông!

Holmes ngẫm nghĩ, và trên khuôn mặt anh bỗng xuất hiện một nụ cười tinh quái:

– Thắng yên ngựa đi chú bé tài giỏi! Tôi muốn chú chuyển thư đến điền trang Elriges.

Anh rút túi ra vài mảnh giấy có những hình người nhảy múa. Anh ngồi xuống bàn, trải rộng chúng ra trước mặt, rồi mải miết với công việc. Cuối cùng anh trao bức thư cho cậu bé. Yêu cầu cậu chuyển đến tận tay người có tên trong địa chỉ, và không được phép trả lời bất kì câu hỏi nào. Tôi liếc nhìn địa chỉ. Nó được viết bằng chữ cong queo, thiếu chính xác, không giống chút nào với nét chữ rõ ràng lúc bình thường của Holmes. Bức thư chuyển cho ông Abe Slaney trang trại Elriges, East Ruston ở Norfolk.

– Ông thanh tra, tôi cần chuyển điện cho đoàn hộ tống. Bởi, nếu điều tôi suy nghĩ đúng, thì ông sẽ phải áp giải một tên tội phạm cực kì nguy hiểm đến nhà tù. Chú bé có thể chuyển luôn bức điện của ông. Còn chúng ta, Watson ạ, chúng ta sẽ trở lại thành phố bằng chuyến tàu sau bữa ăn trưa, vì vào chiều hôm nay tôi cần phải kết thúc một sự phân tích hoá học kì thú. Công việc hiện đang đi nhanh tới kết thúc.

Khi cậu bé đưa thư phi ngựa đi Sherlock Holmes cho triệu tập gia nhân lại. Anh cho biết, ai muốn viếng thăm bà Hil-tơn thì mau ***ng rời khỏi phòng khách và không bao giờ được báo cho bà biết những gì đã xảy ra ở đây. Anh đòi hỏi thi hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Sau đấy anh trở vào phòng khách và nói thêm rằng, lúc này mọi chuyện sẽ được tiến hành không có sự tham gia của chúng tôi, chúng tôi chỉ ngồi chờ và xem con thú nào sẽ sa vào bẫy mà thôi. Người bác sĩ lui tới chỗ bệnh nhân của mình. Chỉ có tôi và viên thanh tra ở lại với Holmes.

– Tôi sẽ giúp các ông dùng một giờ chờ đợi này một cách lí thú và bổ ích – Holmes vừa nói vừa kéo ghế lại gần bàn cà trải rộng ra trước mặt nhiều mảnh giấy với những hình người nhảy múa khác nhau – Anh Watson ạ, tôi cần phải chuộc lỗi lầm của mình, tôi đã gợi trí tò mò của anh đến thế. Còn đối với tôi, ông thanh tra, việc này là một bài học nghề nghiệp tuyệt vời. Trước hết, tôi cần kể cho ông nghe cuộc gặp gỡ của tôi với ông Hil-tơn tại nhà tôi.

Thế rồi anh kể vắn tắt cho viên thanh tra nghe những việc mà chúng ta biết.

– Trước mắt chúng ta là những bức vẽ ngộ nghĩnh. Có thể chúng sẽ gợi ra những nụ cười, nếu chúng không phải là những dấu hiệu báo trước một bi kịch. Hầu như tôi đã biết tất cả những loại chữ viết bí mật. Tôi là tác giả của một bản chuyên khảo, trong đó tôi phân tích 160 hệ thống các chữ viết khác nhau, nhưng tôi phải thú nhận rằng hệ thống các chữ viết này hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Nhưng kẻ phát minh ra hệ thống chữ viết này chắc hẳn muốn cho người ta có cảm giác rằng đó chỉ là những hình vẽ trẻ con.

Tuy nhiên, tôi chắc rằng những hình vẽ này là kí hiệu của những chữ cái, tôi áp dụng những quy tắc thường dùng để đọc các loại chữ viết bí mật. Nhìn hình (1), tôi chưa hiểu được gì ngoài cái điều này: Kí hiệu được vẽ kế bên đây, là một chữ E. Thật vậy, bạn vui lòng nhớ kĩ cho: hình người đứng, hai bàn chân áp sát mặt đất, đôi tay đưa lên trời, na ná như hình vẽ bên đây, là chữ E. (Như các bạn đã biết, E là chữ được dùng nhiều nhất trong tiếng Anh: ngay cả trong một câu ngắn, người ta cũng thường gặp nó). Trong số 15 kí hiệu của hình (1) tôi đã thấy có tới 4 kí hiệu giống nhau. Đó là các con chữ thứ 4, thứ 6, thứ 9 và thứ 14). Vậy việc suy diễn 4 kí hiệu đó là chữ E, là một điều hợp lí).

Sự thật là trong vài trường hợp, hình vẽ có mang một lá cờ, trong những trường hợp khác thì không. Nhưng, nhìn cách phân phối những lá cờ, tôi thấy dường như chúng được dùng để phân biết những-cụm-con-chữ của một câu, nghĩa là thấy lá cờ làm nhiệm vụ của một dấu chấm câu (.) vậy.

Nhưng đến đây tôi bắt đầu **ng phải một điều khó khăn: sau chữ E, các chữ khác trong bảng chữ cái rất khó xếp hạng về sự xuất hiện nhiều hay ít trong tiếng Anh.

Trên nguyên tắc, thứ tự ưu tiên đó được xếp hạng đại khái như sau: T trước, rồi tới A và kế đó là O.I.N.S.H.R.D và L. Nhưng T, A, O và I thường được dùng nhiều như nhau. Nếu tôi cố gắng thử phối hợp chúng với nhau theo nhiều cách cho đến khi nào thấy được “bức hình nhảy múa có một ý nghĩa”, thì tôi sẽ tốn khá nhiều thời gian.

Vậy tôi phải chờ đợi có thêm nhiều câu khác: trong các hình (2), (3) và (4) toàn là những câu ngắn. Đặc biệt hình số (4) có 5 con chữ mà tôi cho rằng nó chỉ là một từ (vì lẽ không có lá cờ).

Khi nhìn kĩ các hình nhân này, tôi thấy có 2 hình nhân là chữ E. Đó là hình thứ nhì và thứ tư. Một từ có 5 con chữ mà trong đó có 2 chữ E nằm ở vị trí thứ nhì và thứ tư, là từ nào?

Nó có thể là :

SEVER (phân chia)

LEVER (đòn bẩy)

NEVER (không bao giờ)

Không còn nghi ngờ gì nữa, vì lẽ đây là một câu trả lời: chữ NEVER (không bao giờ) là chữ có thể đúng nhất. Và trong trường hợp này, chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một câu trả lời do bà Hil-tơn viết.

Để kiểm tra lại các suy đoán của mình, tôi bèn cho rằng nếu 5 con chữ của hình (4) là NEVER thì 3 con chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm phải lần lượt là N. V. và R.

Người mang đòn: N

Người đá banh: V

Người đứng, không tay: R

Nhưng khó khăn vẫn còn nhiều. May mắn là tôi nảy ra một ý nghĩ giúp tôi nằm được chìa khoá của nhiều chữ cái khác. Tôi nghĩ rằng lời kêu gọi này xuất phát từ một người trước kia đã từng có liên hệ mật thiết với bà Hil-tơn: Một từ gồm: 2 con chữ E cách nhau bởi ba con chữ cái khác như trong hình (3b) thì từ đó rất có thể là ELSIE, nhất là từ này nằm ở cuối một câu. Vậy, đó có thể là một lời kêu gọi bà Elsie. Thế là tôi nắm thêm được những kí hiệu của những chữ cái L. S. và I.

Nhưng, lời kêu gọi này có thể có ý nghĩa gì? Từ đi trước từ “Elsie” chỉ có 4 con chữ và tận cùng bằng con chữ E. Từ này chắc phải là “Come” (hãy đến). Để kiểm tra xem có đúng như thế không, tôi thử tất cả những chữ khác gồm có 4 con chữ đều tận cùng bằng E, nhưngkhông có chữ nào phù hợp với ý nghĩa của câu này. Vậy là tôi nắm được kí hiệu của những chữ cái C. O. và M. Tới đây tôi có thể đọc bức hình (1). Tôi phân chia nó ra thành từng chữ và thay thế những dấu chấm vào các hình nhân chưa biết. tôi đạt được kết quả như sau:

. M . R T R . . R D L . N R .

Con chữ đầu tiên phải là chữ A thì mới có nghĩa. Đây quả là một khám phá rất quý báu, bởi vì kí hiệu này xuất hiện đến 3 lần trong câu ngắn này. Tôi thay thế những chữ cái vào chỗ các hình chưa biết thì có AM HERE ABE SLANEY (tôi đang ở đây, Abe Slaney).

Bây giờ tôi nắm được kí hiệu của rất nhiều chữ cái và có thể bắt đầu đọc đến hình (2).

Tôi có được:

A . ELRI . ES

Câu này chỉ có thể có một ý nghĩa nào đó, nếu tôi lần lượt thay chữ T và một chữ G vào chỗ của các dấu chấm và tôi có “AT ELRIGES” (ở Elriges); đây chắc hẳn là một ngôi nhà hay một cái quán, nơi tác giả của câu văn đang ở.

Thanh tra Mác-tin và tôi, cả hai cùng há mồm nghe những lời giải thích của Holmes, những lời giải thích đã giúp anh vượt qua được tất cả những khó khăn.

– Rồi sao nữa, thưa ông? – Viên thanh tra hỏi.

– Tôi có đủ lí do để cho rằng tên Abe Slaney này là một người Mỹ, bởi vì Abe là tên Mỹ, viết tắt của tên Abel, và tất cả cái bi kịch xảy đến cho ông bà Hil-tơn đều bắt nguồn từ một lá thư bên Mỹ gởi sang. Tôi cũng có những lí do mạnh mẽ để tin rằng tất cả vụ này xoay quanh một bí mật tội lỗi. Việc bà Hil-tơn nói bóng gió đến quá khứ của bà và việc bà từ chối không cho chồng biết cái quá khứ, để cho tôi kết luận như thế. Tôi bèn gởi một bức điện tín cho ông bạn Wilson Hargreave của tôi, thuộc sở cảnh sát New York, hỏi ông ta có biết cái tên Abe Slaney là ai không. Câu trả lời là: “Tên lưu manh nguy hiểm nhất ở Chicago”. Ngay trong buổi sáng ngày mà tôi nhận được câu trả lời đó, ông Hil-tơn đã đến, cho tôi xem “tấm hình nhảy múa” cuối cùng của Slaney.

Thay thế những hình nhân bằng những con-chữ-cái đã biết, tôi có được câu này:

ELSIE . RE . ARE TO MEET THY GO .

Chỉ có 2 chữ P và một chữ D mới bổ sung được câu này một cách có ý nghĩa:

ELSIE PREPARE TO MEET THY GOD

(Elsie, hãy chuẩn bị về chầu Chúa).

Đó là lí do tại sao tôi tức tốc đi ngay đến Norfolk cùng với ông bạn Watson.

– Thật là có lợi vô cùng khi được làm việc với ông – Thanh tra Mác-tin nói bằng một giọng đầy phấn khởi – Tuy nhiên, nếu tên Abe Slaney này đã bỏ trốn trong khi tôi đang ngồi ở đây chắc chắn tôi sẽ bị nhiều chuyện rắc rối lớn!

– Ông đừng sợ: hắn không trốn đâu.

– Làm sao ông biết.

– Nếu hắn trốn là hắn sẽ tự thú nhận là mình có tội.

– Vậy chúng ta đi bắt hắn.

– Chốc nữa hắn sẽ đến đây.

– Tại sao hắn lại đến?

– Tại vì tôi viết thư mời hắn.

– Nhưng không thể được ông Holmes! Tại sao hắn lại chịu đến đây chỉ vì có lời yêu cầu của ông?

– Lá thư tôi viết sẽ có hiệu quả. Kìa, hắn đã đến kìa!

Một người đàn ông tiến theo lối đi đưa đến cửa lớn. Thân hình cao lớn, vạm vỡ, nước da sạm nắng, trên gương mặt của hắn nổi bật một hàm râu đen xồm xoàm và một chiếc mũi quặp to lớn. Hắn đi một cách hiên ngang như thể ngôi nhà này đã thuộc về hắn rồi, một cây can quơ qua quơ lại không không khí.

– Này các ông – Holmes nói bằng giọng bình tĩnh – Chúng ta nên thủ thế sẵn sàng đằng sau cánh cửa. Với một tên cướp như thế này, chúng ta phải hết sức cẩn thận. Ông thanh tra, xin vui lòng để tôi ra tay trước.

Cánh cửa mở ra, hắn bước vào. Ngay lúc đó, Holmes dí súng dưới mũi hắn và Mác-tin còng tay hắn lại. Động tác này diễn ra quá bất ngờ và quá nhanh ***ng khiến Slaney chưa kịp phản ứng gì. Hắn nhìn chúng tôi bằng đôi mắt giận dữ rồi cất lên một tràng cười chua chát:

– Thế là tôi rơi vào bẫy của các ông. Nhưng các ông hãy nghe đây: tôi đến đây vì lá thư của bà Hil-tơn. Các ông đừng nói với tôi là bà ấy tiếp tay với các ông để làm ra cái bẫy này.

– Bà Hil-tơn bị thương rất nặng, có thể nguy đến tính mạng.

Tiếng thét rùng rợn của Slaney vang dội khắp cả ngôi nhà:

– Ai đã làm cho Elsie bé nhỏ của tôi bị thương? Tôi có đe doạ nàng. Nhưng không bao giờ tôi **ng đến một sợi tóc xinh đẹp của nàng! Các ông hãy thú thật rằng nàng không bị thương!

– Người ta đã thấy bà Hil-tơn bị thương rất nặng bên cạnh tử thi của chồng bà.

Tên tội phạm rơi xuống ghế tràng kỉ, vừa rên rỉ vừa đưa hai bàn tay bị còng lên ôm lấy đầu, im lặng trong năm phút. Rồi hắn ngẩng đầu lên, gương mặt đượm một vẻ tuyệt vọng, lạnh lùng:

– Nếu tôi có bắn vào người đàn ông thì hắn cũng có bắn vào tôi: vậy không có vấn đề ám sát. Nhưng nếu các ông nghĩ rằng tôi đã bắn vào người đàn bà, thì rõ ràng là các ông không hiểu tôi, cũng như không hiểu nàng. Tôi xin thề với các ông rằng trên thế giới này không có tình yêu nào mãnh liệt hơn tình yêu của tôi đối với nàng! Trước đây, nàng đã hứa hôn với tôi. Người Anh kia là ai? Tại sao hắn lại chen vào giữa nàng và tôi? Chỉ có tôi mới có quyền hạn đầu tiên đối với nàng, và tôi đến đây là chỉ để đòi lại người yêu của tôi thôi.

– Bà ấy đã trốn ông, khi bà ấy biết ông là hạng người như thế nào – Holmes nói bằng một giọng nghiêm khắc – Bà ấy đã trốn khỏi nước Mỹ, để không gặp ông nữa, và bà ấy đã kết hôn tại nước Anh, với một người đàn ông lương thiện. Ông đã tìm ra được dấu vết của bà ấy, bắt buộc bà ấy đi theo ông. Hành động của ông đã đưa đến cái chết cho một người đàn ông cao quý và làm cho vợ ông ta phải tự sát. Ông Abe Slaney, ông sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật!

– Nếu Elsie chết, tôi cóc cần những gì ở trên đời này nữa! – Abe Slaney đáp, vừa mở lòng bàn tay ra để cho chúng tôi thấy một miếng giấy nhàu nhò đang nằm trong đó – Các ông hãy xem cái này! – Hắn kêu lên, đôi mắt thoáng hiện một vẻ nghi ngờ – Các ông không làm cho tôi sợ đâu, các ông biết chứ! Nếu Elsie đang ở trong tình trạng như các ông vừa nói thì ai đã viết thư này?

Hắn ném miếng giấy lên bàn.

– Tôi. Chính tôi đã viết bức thư đó – Holmes đáp.

– Ông ư? Trên thế giới này không có ai ngoài băng nhóm của chúng tôi biết được bí mật của những hình nhân nhảy múa. Làm sao ông viết được lá thư này?

– Những gì một người đã phát minh ra được thì một người khác cũng có thể khám phá ra được! – Holmes đáp – Đây là một chiếc xe sẽ đưa ông đến Norwich, ông Slaney. Nhưng trước đó, ông còn có đủ thì giờ để sửa chữa phần nào tội lỗi mà ông đã làm. Ông có biết rằng bà Hil-tơn đang bị nghi ngờ đã ám sát chồng bà không? Nếu tôi không có ở đây, nếu tôi không may mắn tìm ra được những điều bí mật của ông, bà ấy sẽ bị buộc vào tội sát nhân. Điều tối thiểu mà ông có thể làm được cho bà ấy là xác minh bà ấy không có trách nhiệm gì cả, trực tiếp hay gián tiếp, về cái chết bi thảm này.

– Tôi không đòi hỏi gì hơn! – Slaney đáp – Hơn nữa, sự thật hoàn toàn sẽ là lời biện hộ tốt nhất cho tôi.

– Tôi có bổn phận báo trước cho ông biết rằng những điều mà ông sẽ nói có thể được sử dụng để buộc tội ông! – Thanh tra cảnh sát Mác-tin kêu lên.

Slaney nhún vai:

– Vì nàng, tôi bất chấp tất cả. Tôi với người đàn bà này quen biết nhau từ thuở nhỏ. Lúc ấy, chúng tôi gồm có 7 người trong một băng cướp ở Chicago; cha nàng là sếp của chúng tôi. Ông già Pa-tríc là một người thông minh! Chính ông ấy đã phát minh ra lối chữ viết bí mật này, một lối chữ viết mà mới nhìn qua, người ta cứ tưởng là một trò chơi trẻ con, Elsie có biết vài phương pháp làm việc của chúng tôi, nhưng nàng không thể cùng đi với chúng tôi được: nàng có một bản chất lương thiện nên nàng chống lại lối sống bất lương của chúng tôi.

Tôi ở vùng này đã được một tháng. Tôi thuê một căn phòng ở tầng một của nông trại Elriges nơi tôi có thể ra vào hàng đêm mà không ai trông thấy, cũng không ai hay biết. Tôi đã làm đủ mọi cách để thúc đẩy Elsie ra đi với tôi. Tôi biết nàng có đọc những lời nhắn của tôi, bởi vì có một lần nàng đã ghi câu trả lời: “Không bao giờ” ở bên dưới. Cơn tức giận nổi lên, tôi bắt đầu đe doạ nàng. Nàng bèn gửi cho tôi một lá thư năn nỉ tôi, yêu cầu tôi rời khỏi vùng này, bảo rằng nàng sẽ vô cùng đau đớn nếu danh dự của chồng nàng bị ô uế vì một vụ tai tiếng. Nàng bảo rằng nàng sẽ xuống dưới nhà vào lúc 3 giờ sáng, khi chồng nàng ngủ say, và sẽ nói chuyện với tôi đằng sau chiếc cửa sổ, nếu tôi hứa sau đó sẽ ra đi. Nàng đã đến đúng hẹn, đứng đằng sau cánh cửa sổ và mang theo một túi tiền. Nàng muốn dùng tiền bạc để buộc tôi phải ra đi. Điều này đã làm cho tôi nổi điên lên. Tôi liền nắm lấy tay nàng, gắng hết sức kéo cửa sổ. Đúng lúc đó, chồng nàng từ trên lầu chạy xuống, tay cầm súng lục. Elsie đã ngã xuống sàn nhà, chỉ còn lại hai chúng tôi đối diện với nhau. Tôi rút khẩu súng của tôi ra với ý định làm cho ông ta phải để cho tôi chạy thoát. Nhưng ông ta đã nổ súng. Tôi liền bắn trả lại gần như cùng một lúc. Ông ta ngã gục xuống và tôi bỏ chạy băng qua khu vườn. Tôi nghe có tiếng cửa sổ đóng lại phía sau tôi. Thưa các ông, đó là sự thật hoàn toàn và tôi không biết gì hơn nữa, ngoại trừ sau đó có một cậu bé cưỡi ngựa đến nông trại trao cho tôi bức thư bảo tôi đến đây. Và tôi đã rơi vào tay các ông, như một thằng ngốc.

Một chiếc xe đã đến cùng với hai cảnh sát vận sắc phục, trong khi Slaney thuật lại câu chuyện. Thanh tra đứng lên, nói với kẻ phạm tội:

– Nào, chúng ta hãy đi. Đã đến giờ rồi.

– Tôi có thể gặp nàng một chút được không?

– Không. Bà ấy hiện đang hôn mê. Thưa ông Sherlock Holmes, nếu trong tương lai tôi có một vụ quan trọng nào khác phải điều tra, tôi sẽ rất sung sướng được có ông ở bên cạnh!

Đứng trong khung cửa sổ, chúng tôi nhìn theo chiếc xe mỗi lúc một xa dần. Khi quay đầu lại, tôi trông thấy miếng giấy nhỏ mà Slaney đã ném lên bàn lúc nãy. Đó là bức thư mà Holmes đã gởi cho anh ta.

– Anh hãy thử đọc nó đi, Watson! – Holmes mỉm cười nói với tôi.

Bức thư chỉ có một hàng hình nhân nhảy múa:

– Nếu bạn sử dụng cái chìa khoá những kí hiệu mà tôi đã giải thích với bạn, Holmes nói tiếp, bạn sẽ thấy câu này có nghĩa là: “Come here at one” (hãy đến ngay lập tức). Tôi tin chắc anh ta không thể từ chối lời kêu gọi này, bởi vì anh ta không thể nghi ngờ câu này do một người nào khác viết, ngoài bà Hil-tơn. Và thế là chúng ta đã biến những con người nhảy múa, trước kia phục vụ cho tội ác, nay trở thành những kẻ phục vụ cho luật pháp. Chuyến xe lửa sẽ khởi hành lúc 3 giờ 40. Tôi muốn ăn tối tại nhà mình.

Vụ này thế là đã được Holmes giải quyết một cách tài tình. Tưởng cũng nên biết số phận của hai kẻ còn sống sót trong tấn bi kịch:

Abe Slaney bị toà đại hình Norwich kết án tử hình. Nhưng sau đó được giảm xuống thành khổ sai chung thân, bởi vì Hil-tơn bắn trước. Về phần bà Hil-tơn, bà đã được cứu sống, và sau một thời gian thì bình phục. Bà không tái giá, hiến dâng đời mình cho những công cuộc từ thiện, và chăm lo quản trị gia sản của chồng.

Hết

Xem cả bộ:

Các chương khác:

truyen sex

,

truyen nguoi lon

,

truyen dam

,

truyen loan luan

,

doc truyen

,

doc truyen sex

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Tin tức:
Ảnh SEX - Ảnh NUDE
Chuyện Lạ – Funny
Đời Sống – Tổng Hợp
Girl Xinh - Hot girl
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Phần mềm:
doc truyen hay,truyen tranh sex,truyen loan luan,truyen nguoi lon,truyen dam 18+